|
Hải bất dương ba (*) |
|
Tựa:
Qua đoạn kết Đảo
chìm niên biên ký truyện mới đây, người
viết gọt chữ vót bút:
“…Thế là cụ len lén giấu biến
xấp giấy của chú em vào cái túi xách tay và
chỉ mong về đến nhà ôm lấy cái bàn
viết để đục chữ đẽo câu
với bài viết: Hải
bất dương ba…”
Và dưới đây là đầu ghềnh
cuối bãi mà người viết đã ngụp
lặn với chữ nghĩa…
***
Đời nhà Nguyên thế kỷ 13, ông Châu
Đạt Quang với 30 năm ngược xuôi trên
biển cả và để lại tập Chiêm
Thành phong thổ ký, cẩm nang hải hành cho
những người đi sau. Trong Chiêm Thành phong
thổ ký chỉ nhắc đến cửa Đại
Chiêm (Hội An) của người Chiêm Thành
chứ không đề cập đến hai
quần đảo “Hoàng Sa” và “Trường Sa”.
Vào thế kỷ thế kỷ 14 và 15,
hải đồ Địa
trung hải phương Đông của Ba Tư cũng
vậy, nếu họ có ghé chân lên hai quần đảo
trên và đặt tên thì cũng như Christopher
Columbus tìm ra Nam Mỹ với những tên Y
Pha Nho như Dominica, hoặc Guadeloupe, v…v...
Cũng vậy, từ
thế kỷ 16, người Ấn
Độ, Ả
Rập, Bồ
Đào Nha, Tây
Ban Nha, Hoà
Lan, Anh, Pháp đã đề
cập về các đảo trên. Trong
số đó có các nhà hàng hải Pháp, họ
xuống tàu từ cảng La Rochelle ngày 7 tháng 3 năm 1568 cùng
với các tu sĩ Dòng Tên đã đến một hòn
đảo trong quần đảo Hoàng Sa. Hòn
đảo trở nên nổi tiếng trong các biên niên
sử hàng hải với vụ đắm tàu “Amphitrite” dưới thời vua Louis
XIV trong khi đưa các giáo sĩ Châu Âu sang Viễn Đông, và
gặp nạn ở đây.
Hòn
đảo trong quần đảo Hoàng Sa trở
thành địa danh hàng hải quốc tế với tên Amphitrite.
Tên này được đặt theo tên chiếc tàu
của Pháp bị đắm chìm.
Danh từ Paracels
xuất hiện lần đầu tiên trên một
bản đồ Bán Ðảo Ðông Dương (Carte de
la Péninsule Indochinoise) do Frère Van Langren, người Hòa
Lan, ấn hành
năm
1595. Bản đồ này phác họa nhờ những tài
liệu của người Bồ Ðào Nha, nối gót
nhà hàng hải Vasco de Gama, đã tiên phong đông du tìm
kiếm xứ Ấn Ðộ bằng đường
biển (route maritime des Indes) bằng cách đi vòng mũi
Hảo Vọng (Cap de Bonne Espérance) năm 1497. Nhiều
tàu thủy Bồ Ðào Nha đã tới Malacca từ năm
1509, Xiêm La từ năm 1511, vào năm 1516 thì Fernando
Perez d'Andrade đến cửa biển sông Mekong.
Nhưng cho đến thế kỷ 17 và
18, người Châu Âu kể cả
Anh và Pháp vẫn
chưa phân biệt rõ vị trí khác nhau giữa hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên
bản đồ thường ghi I de Pracell như
bản đồ Bartholomen Velho 1560, bản đồ
Fernao Vaz Dourado 1590, bản đồ Van Langren 1595 (Theo
giáo sư Pierre Yves Manguin, danh từ Ilhas do Parcel
(Paracels) do người Bồ Ðào Nha đặt ra. Trong
từ ngữ của họ, danh từ Parcel có nghĩa
là “đá ngầm” récif - Nhưng theo giáo sư A. Brébion,
Paracels do tên một chiếc tàu của công ty Hòa Lan
Ðông Ấn, tên Paracelsse, bị chìm đắm tại
quần đảo này hồi thế kỷ XVI).
Mãi đến năm 1787-1788, đoàn khảo sát
Kergariou Locmaria mới xác định rõ vị trí
của quần đảo Paracel (chính xác
là quần đảo Hoàng Sa hiện nay) và từ
đó người phương Tây mới bắt
đầu phân biệt quần đảo Hoàng Sa
ở phía bắc với một quần đảo khác
ở phía nam, tức quần đảo Trường
Sa.
Bản
đồ trong sách Phủ biên tạp lục do
Lê Quý Đôn
soạn
năm 1776, gọi nhóm đảo là Bãi cát vàng, hay Cồn
vàng là tên Nôm do dân gian đặt cho quần
đảo này. Trong sách De
la Cochinchine, J.L. Taberd gọi là “des
Paracels ou de Kat-vang” (Hoàng
Sa là tên chữ Hán, nghĩa
là "cát vàng") gồm nhiều đảo, bãi san hô nhỏ và mỏm
đá ngầm.
“Hoàng
Sa” trong Phủ biên tạp lục
Hoàng Sa cách Đà Nẵng
khoảng 150 hải lý (**) (275 km) được
gọi tên chung là Achipel des Paracels. Quần
đảo gồm 6 đảo lớn và những hòn
nhỏ thường bị ngập dưới nước
khi thủy triều dâng lên. Thời Pháp, 6 đảo
lớn được chia ra làm hai nhóm.
Nhóm thứ nhất được gọi là nhóm
đảo Amphitrite (tên
chiếc tàu Amphitrite thời vua Louis
XIV bị đắm
ở Hoàng Sa). Nhóm thứ hai là nhóm đảo hình
trăng lưỡi liềm (Groupe
du Croissant) có đảo Hoàng Sa (Ile
Pattle, Pattle Island). Hai hòn đảo lớn nhất
của quần đảo này là Lâm đảo (Ile
Boisée, Tree Island) có cây cối um tùm như rừng,
nên mới được mệnh danh như vậy và
đảo Hoàng Sa có rất nhiều dừa nước
và bụi rậm. Tổng diện tích của 6 đảo
lớn khoảng hơn 10 cây số vuông.
Thời Pháp thuộc, Trường
Sa vừa được gọi là Spratly,
vừa được gọi là Ile de (la) Tempête (tạm
dịch là đảo Bão Tố). Tên gọi này
bắt nguồn từ tên tiếng Anh Horsburgh's Storm
Island do James Horsburgh, nhà
thuỷ văn học người Scotland
đặt vì khi tới đảo, ông chỉ gặp
những bão với bão. Năm 1843, nhà hàng hải Richard Spratly
đặt tên cho đảo là Spratly's Sandy Island,
vì khi tới đây, ông chỉ thấy toàn những
cồn cát. Quần đảo Trường Sa cách Phan
Thiết 280 hải lý, tổng
diện tích đất nổi rất nhỏ, không quá
5 km, gồm những đảo “rạn-đá-ngầm”,
đảo “đá-bãi”, đảo “cồn-cát”.
*** Đời
nhà Minh thế kỷ 14 và 15 với “Con đường
gốm sứ và tơ lụa trên biến” qua 7
chuyến đi về của Đô đốc Thái giám
Trịnh Hòa (1371-1435) tới tận Ấn Độ,
Phi Châu và Trung Đông. Trên đường đi,
đoàn thương thuyền của ông tìm ra Cù lao Chàm.
Ngày nay ở bãi Hương tại Cù lao Chàm có
miếu cổ tên thờ Thái giám Trịnh Hòa. Ngoài ra
qua Trịnh Hoà hàng hải đồ (nguyên danh Tự
Bảo thuyền xưởng khai thuyền tòng Long Giang
Quan xuất thuỷ trực để ngoại quốc
chư phiên) ông đã tìm ra Hoàng Sa và Trường
Sa. (***) Trịnh
Hòa hàng hải đồ
Gần
đây, người Trung Hoa đưa ra Thiên hạ
hải đạo toàn đồ được
vẽ vào khoảng năm 1624 Ung Chính thứ 4,
200 năm sau cuộc hải hành Trịnh Hòa. Họ cho
hay Thiên hạ hải
đạo toàn đồ được vẽ
theo Trịnh Hòa hàng hải đồ có ghi địa
danh Vạn lý thạch
đường. Đảo này nằm ở phía
đông đảo
Hải Nam và Lý Sơn. (Đảo Lý Sơn tức Cù lao Ré thuộc tỉnh
Quảng Ngải cách Hoàng Sa 315 km). Từ “Thiên
hạ” hải đạo
toàn đồ thì cái tên “thiên hạ”
đã nói lên tất cả: Đảo Lý Sơn và Hoàng
Sa thuộc về…thiên hạ.
Sau đấy Trung Hoa lại trưng ra “bản
đồ của Mao Kun” vào thế kỷ 17, cũng
được cho là giống với
Trịnh Hòa hàng hải đồ
có ghi địa danh Vạn
lý thạch đường mà họ cho là Hoàng Sa. Đồng
thời họ đưa ra một hải đồ khác
nữa gọi là Hỗn
nhất cương lý lịch đại quốc đô
chi đồ vào thời nhà
Minh có đánh dấu vị trí của
Vạn lý thạch đường..”khác nữa”.
Vị trí này hiện được phía Trung Hoa cho là…“tương
ứng” với Trường Sa. Tuy nhiên Vạn lý thạch đường này được
vẽ nằm ở phía đông đảo Hải Nam.
Vì “đường” có nghĩa là “đàng”,
đi bên đàng gặp đảo hoang nào đó
họ đánh dấu và ghi chú một cái tên.
Như
người Âu Châu, cho
đến thế kỷ 17:
Người Trung Hoa cũng vẫn
không phân biệt rõ vị trí giữa hai quần đảo
Hoàng Sa với Trường Sa.
Trên đường đi tìm
những địa danh và dấu tích của hai đảo
trên, đầu thế kỷ 21, một nhà biên
khảo ở Hà Nội tìm thấy một tấm
đồ thị có tên là Việt
Nam địa dư đồ. Tấm đồ
thị này cũng được lưu trữ tại
thư viện Đại
học Oxford ở Anh Quốc, cũng vào
thời nhà Thanh, do Xa Khâu Từ Diên Húc sọan vào
thời Gia Long.
Bản đồ ghi: “Việt Nam quốc tòan
đồ thuật lược”, nghĩa là ghi chú tóm
tắt và đánh dấu đất đai của ta
thời ấy: Như “Nguyễn Quang Trung phụ
tử cư” là thổ ngơi
của cha con Nguyễn Quang Trung. Tới “Thử
Việt vương Nguyễn Phúc Ánh diệt chi
tọa độ thử” là Vua
Nguyễn Phúc Ánh diệt họ rồi lấy đó làm
kinh đô. Đặc biệt, tác giả vẽ
một vòng tròn ở Phú Xuân, tô đậm và
viết “VN quốc kiến đô” tức chỗ
đóng đô của VN.
Theo bản đồ có ghi chú các tỉnh của
nước ta vào thời Nguyễn lúc bấy giờ
như Cao Bằng, Tuyên Quang, Sơn Tây, Quảng Yên,
Nam Định, Thanh Hóa, Phú Xuân, Quang Ngãi, Biên Hòa, Gia
Định. Đường biên giới phía bắc phân
định Trung Hoa với VN gần giống với
hiện tại, riêng bờ biển không giống
lắm. Trên vùng biển có hàng chữ rất quan
trọng, phía đông nam của biển đề
“Tiểu Trường Sa hải khẩu”, phía dưới
xa hơn đề “Đại Trường Sa hải
khẩu”. Theo một số nhà bản đồ
học cổ, tiểu Trường Sa là chỉ Hoàng
Sa, còn đại Trường Sa chỉ Trường
Sa hiện nay.
Năm 2012, tại Hoa Kỳ, thêm một người
Hà Nội tìm ra Trung Hoa bưu chính dư đồ. Tổng
cục Bưu chính thuộc Bộ Giao thông của Trung
Hoa Dân Quốc xuất bản lần đầu năm
1919 ở Nam Kinh bằng 3 thứ tiếng Trung-Anh-Pháp.
Năm 1935, Trung
Hoa Dân Quốc đã xuất bản
"Biểu đối chiếu tên gọi Hoa-Anh các
đảo thuộc Nam Hải Trung Quốc", trong
đó gọi Hoàng Sa là Tây
Sa/Xishá dǎo)
và Trường Sa là Nam
Sa/Nánwēi dǎo. Trung
Hoa bưu chính dư đồ
***
Hoàng Sa và Trường Sa qua những bộ chính
sử của Trung Hoa như
Tiền Hán thư,
Đường thư, Tống sử, Nguyên sử,
Minh sử và Thanh sử
được đề cập đến như sau.
1. Tiền Hán thư
(76 – 84)
Vào thời kỳ này, có thể nói người
Trung Hoa chưa biết gì về các quần đảo
ở vùng dưới biển nam Trung Hoa. Những ghi chép trong
bộ Tiền Hán thư chỉ nhắc đến
sự kiện chinh phục đảo Hải Nam,
chứng tỏ đảo này không thuộc nhà Hán. Người
dân bản xứ được nhắc đến
ở đây là các bộ tộc đã chống
lại ách đô hộ, buộc quân Hán xâm lược
phải rời bỏ đảo vào thời gian đó.
Tuy nhiên, sau cái chết của Hán Vũ Đế, nhà
Hán bắt đầu suy thoái. Đời Hán Nguyên
Đế, quân nhà Hán đã phải rút khỏi đảo
Hải Nam cho đến đời Lương, Tùy
mới đặt lại nền cai trị. Nếu
nhà Hán đã bỏ đảo Hải Nam thì cũng không
lý vấn đến các đảo Hoàng Sa Trường
Sa tại Đông Hải.
2. Đường
thư (1060)
Sách Đường thư đề cập
tới cuốn Giao Châu
dị vật chí của Dương Phu chép
những chuyện kỳ dị tại Giao Châu (VN). Sách
này chép tại Thất châu dương ( Hoàng Sa) là nơi
có nhiều đá nam châm khiến các thuyền
ngoại dương có đóng chốt sắt đi
qua không được. Điều này đã khẳng
định quần đảo Hoàng Sa thuộc về
Giao Châu xưa (VN).
3. Tống sử
(960-1297)
Sử gia Triệu Nhữ Quát đời
Tống trong Chư phiên chí
cho biết vùng quần đảo Vạn Lý Trường
Sa là nơi nguy hiểm, tàu thuyền Trung Hoa không nên
đến gần vì chỉ đi sai một tí là có
thể chìm đắm. Nhan đề sách là Chư phiên
chí, có nghĩa là chép chuyện các phiên quốc, nước
ngoài. Vạn Lý Trường Sa nằm ở phiên
quốc, có nghĩa là không thuộc về Trung Hoa mà
thuộc về phiên quốc Nam Việt. Như vậy,
biên giới trên vùng biển
phía nam Trung Hoa vào đời nhà Tống cũng
chỉ tới đảo Hải Nam.
Đời Nam Tống, cuốn Lĩnh
ngoại đại đáp của Châu Khứ Phi cũng
xác nhận: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa)
tọa lạc tại Giao Chỉ Dương”. Như
vậy, các thư tịch cổ Trung Hoa từ đời
nhà Tống đã cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa
không thuộc về Trung Hoa mà thuộc về nước
khác mà Trung Quốc gọi là phiên quốc hay Giao Châu,
Giao Chỉ.
4. Nguyên sử (1206-1368)
Sau 3 phen thất bại, nhà Nguyên không còn dòm ngó
Đại Việt cả trên lục địa đến
các hải đảo. Trong Dư
địa đồ đời Nguyên của Chu Tư
Hiện năm 1561 phần cực nam lãnh thổ Trung
Hoa là đảo Hải Nam.
Đời nhà Nguyên thế kỷ 13, ông Châu
Đạt Quang với tập Chiêm
Thành phong thổ ký chỉ nhắc đến
cửa Đại Chiêm của người Chiêm Thành.
5.
Minh sử (1369-1648)
Dưới
đời nhà Minh, Minh Thành Tổ cử Đô đốc
Thái giám Trịnh Hòa chỉ huy những đoàn thám
hiểm nhằm khai thác con đường tơ
lụa trên biển qua Ấn Độ, Phi Châu và Trung
Đông. Trên thực tế trạm trú chân của
đoàn thuyền này là Đồ Bàn (Chaban) thủ
phủ Chiêm Thành bấy giờ. Chính sử nhà Minh cho
biết, từ thế kỷ XV, các đảo Hoàng Sa
nguyên là địa bàn ngư nghiệp của Chiêm Thành
đã trở thành lãnh thổ của Đại
Việt.
Đại Minh
nhất thống chí gọi vùng biển Hải Nam là
“Biển nam Trung Hoa” và vẽ phần
cực nam Trung Hoa là đảo Hải Nam. Trong khi
cuốn Vũ bị chí
của Mao Nguyên Nghi gọi “Biển Đông” là Giao
Chỉ Dương. (Sau này qua cuộc tranh chấp
về hải phận giữa Trung Hoa và VN, tên
“Biển Đông” bao gồm hai quần đảo Hoàng
Sa, Trường Sa).
(“Hạm đội” của Trịnh Hòa
gồm 4 “Đại thuyền” và cả trăm
thuyền nhỏ bao quanh để bảo vệ. Đại
thuyền cao ba, bốn tầng, có tầng để
chứa đà điểu, lạc đà cao cổ. Theo
sách khảo cổ, Trịnh Hòa ghé “Bạch Địch
Trường”, tức bến Vân Đồn ở
vịnh Hạ Long, ghé Cù Lao Chàm gần Hội An
(Cửa Đại Chiêm) để mua đồ
gốm Bát Tràng, Chu Đậu, Thổ Hà.
Trịnh Hòa chỉ huy những cuộc hành trình
tại Ấn Độ Dương mệnh danh là
“Thất Hạ Tây Dương” (Tây Dương là
Ấn Độ Dương). Điều đáng lưu
ý là về 7 chuyến công du tại trên 30 quốc gia
trong 28 năm (từ 1405 đến 1433. Trong Hải
trình ký của Trịnh Hòa ghi chép những
chuyến hải hành đi về Trịnh Hòa đã
dừng chân tại hải cảng Chaban (Trà Bàn hay
Đồ Bàn) thủ phủ Chiêm Thành. Như vậy
không có chuyện phái bộ Trịnh Hòa đến các
đảo Hoàng Sa và Trường Sa để
chiếm hữu và hành sử chủ quyền.
Chính sử Trung Hoa là cuốn Lịch
sử Trung Quốc thời trung cổ, Hsieh Chiao-Min
nhận định: “Suốt chiều dài lịch
sử, dân tộc Trung Hoa không tha thiết với đại
dương”. Thảng như triều đình Trung Hoa
gửi những đoàn thám hiểm đến Ấn
Độ, Ba Tư và Phi Châu trong thế kỷ XV.
Điểm rõ nét nhất là những tài liệu trên
biển Thái Bình Dương có rất ít, gần như
là không có từ đời nhà Tần đến nhà
Thanh từ thế kỷ XVII đến thế kỷ
XX.
Sau khi Minh Thành Tổ mất,
triều đình nhà Minh đã phê phán những
cuộc hải trình nặng phần trình diễn
của Trịnh Hòa đã góp phần làm suy yếu
nền kinh tế nhà Minh).
6. Thanh sử
(1649-1916)
Hải
Nam, Giao Chỉ và Đài Loan
Quận Châu Nhai kéo dài từ vĩ tuyến 20
(ngang Thanh Hoá) đến vĩ tuyến 18 (ngang Nghệ
An – Hà Tĩnh). Trong khi quần đảo Hoàng Sa
tọa lạc về phía nam, từ vĩ tuyến 17
đến vĩ tuyến 15 (Quảng Trị, Thừa
Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi) và quần đảo
Trường Sa tọa lạc tại các vĩ
tuyến 12 đến vĩ tuyến 8 (Cam Ranh – Cà
Mau).
Trong bộ sách địa lý Đại
Thanh nhất thống chí do Quốc sử quán nhà
Thanh biên soạn năm 1842 với lời tựa
của Hoàng đế Thanh Tuyên Tông, không có chỗ nào
ghi Thiên Lý Trường Sa hay Vạn Lý Trường
Sa. Đại Thanh
nhất thống toàn đồ vẽ đảo
nhỏ ở phía dưới là Hải Nam, gần
đó bên trái là Giao Chỉ, đảo lớn bên
phải là Đài Loan.
Hơn nữa, trong Hải
quốc đồ ký, chép: “Vạn Lý Trường
Sa là dải cát dài ngoài biển được dùng làm
phên dậu che chắn
mặt ngoài bờ cõi nước An Nam”. Những
sự kiện trên được minh chứng từ
chính sử của nhiều triều đại Trung Hoa
đã mặc nhiên thừa nhận chủ quyền
của người Việt Nam trên hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa trong suốt hơn 22 thế
kỷ từ thời Hán cho đến nhà Thanh đầu
thế kỷ XX.
(Ngoài ra cuốn Hải
ngoại kỷ sự (1695) của Thích Đại Sán
một nhà sư thời Khang Hy đã đến đất
Thuận Hóa của chúa Nguyễn ngày 29 tháng giêng năm
Ất Hợi (13-3-1695) thuật lại chuyến
hải hành và ghi nhận chủ quyền của Đại
Việt trong việc kiểm soát vùng biển đông
với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
ít nhất từ thế kỷ thứ XVII).
***
Hoàng Sa và Trường Sa xuôi dòng sử Việt
qua sử phẩm:
Đời Lý (1009-1225)
Năm 1075, Lý Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt
vẽ hình thế núi sông 3 châu Ma Linh, Địa Lý và
Bố Chinh. Theo Lê Quý Đôn vào năm Tân Mão 1172,
Lý Anh Tông đi chơi "Xem
sơn xuyên hiểm trở, đường sá xa
gần và sự sinh hoạt của dân gian…”. Năm
Nhâm Thìn 1173, Lý Anh Tông “Sai
quan làm quyển địa đồ của nước
Nam…”.
Đó một quyển địa lý học
Việt Nam gọi là Nam Bắc phiên giới
địa đồ.
Thực ra dựa vào tấm sơ đồ
của Lý Thường Kiệt cho người vẽ
những địa danh trên đường đi đánh
Chiêm Thành và ngừng chân ở Bố Chánh. Nên chưa
tới vùng biển.
Như vậy là ngành địa lý đã
xuất hiện chính thức ở nước ta
từ đời nhà Lý.
Đời Trần (1225-1400)
Suốt đời Trần, không thấy sử sách
ghi chép gì về bộ môn địa lý.
Đời Lê (1428-1788)
Qua đời Lê có Nguyễn Trãi (1380-1442) hiệu
Ức Trai, người xã Nhị Khê (Hà Đông) là người
viết quyển địa dư lấy tên là Địa
dư chí. Quyển này lược khảo địa
dư các triều trước đời Lê Thái
Tổ, chép địa dư buổi Lê sơ, kể rõ
các đạo trong nước, rồi cứ mỗi
đạo xét về núi sông, sản vật và
liệt kê các phủ, huyện, châu, xã. Địa
dư chí của Nguyễn Trãi là quyển
địa lý học xưa nhất còn lại cho đến
ngày nay. Và cũng là lần đầu tiên, các
hải đảo ngoài khơi phía đông được
gọi là Đại Trường Sa đảo.
Năm 1490, Hồng Đức thứ 21, Lê Thánh Tông
sai hiệu đính Địa
dư chí để soạn Hồng Đức
bản đồ. Năm 1653, đời Lê Hiển
Tông và Trịnh Cương, có Dương Nhữ
Ngọc người Lạc Đạo (Gia Lâm),
soạn Thiên Nam lộ đồ thư
viết: “Vua Lê Chúa Trịnh mỗi năm vào
cuối mùa đông, đưa 18 chiếc thuyền
đến đảo gom nhặt súng đạn
của tàu đắm trôi dạt vào nhặt được
phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ. Chỗ
bãi cát ấy cũng có đồi mồi”.
Vì vậy qua Địa dư chí của
Nguyễn Trãi, người sau biết đến
những hải đảo được gọi tên
chung là Đại Trường
Sa đảo. (Như khúc đầu đã đề
cập, riêng Hoàng Sa qua bản
đồ trong Phủ
biên tạp lục, Lê
Quý Đôn gọi nhóm
đảo này được gọi là Bãi cát vàng,
hay Cồn vàng).
Đảo danh Trường Sa đã thấy có
từ lâu trong cuốn Thiên
Nam tứ Chí Lộ đô thư của Đỗ Bá
vào cuối thế kỷ 17. Sách này gồm có 4
quyển, trong mỗi quyển có một số bản
đồ với những lời chú thích viết
một trang hoặc được viết liền trên
phía trên bản đồ. Những bản đồ này
vẽ lại đường lối đi từ Thăng
Long đến nước Chiêm Thành, từ Kinh Kỳ
cho đến Quảng Đông, từ phủ Phụng
Thiên cho đến Quảng Tây, Vân Nam, và từ Kinh thành
cho đến cửa Bắc Quang (Lạng Sơn). Theo
nhà khảo cổ Pháp, Dumoutier soạn giả khảo
cứu nhan đề Etude sur un portulan Annamite du 15ème
siècle đăng tải trong kỷ yếu Bulletin
de Géographie historique et descriptive (1896) thì những
bản đồ này đã được vẽ theo
những tài liệu thâu lượm được vào
cuối thế kỷ 15,
trong khi vua Lê Thánh Tôn thân chinh đi đánh Chiêm Thành
năm 1470.
Hồng
Đức bản đồ (thuộc
đời Lê)
Chính ở trong một số bản đồ này
đã thấy có ghi đảo danh Trường Sa (tham
chiếu Hồng Đức Bản Đồ của
Viện Khảo Cổ Sài Gòn năm 1962 dịch theo
bản vi phim (microfilm) của Đông Dương Văn
Khố (Toy Bunko, Tokyo, vi phim số 100.891).
Vậy là Trường Sa đã được
đặt tên sau khi Lê Thánh Tôn bình định Chiêm
Thành.
Thời Hậu Lê, năm Cảnh Hưng thứ
36, Lê Quý Đôn (1726-1784) được
cử làm Tổng tài Quốc tử quán, coi việc
tục biên quốc sử và địa dư. Cùng
với Nguyễn Hòan, ông sọan tập Phủ
biên tạp lục khi ông được cử làm
Hiệp trấn tham tán quân cơ ở phủ
Thuận Hóa. Trong sách biên chép khá tường tận
về xứ Đàng Trong, nhất là xứ Quảng
Nam.
Phủ biên tạp
lục có thể được xem là sách
địa dư chí, hay bút ký chép lẫn lộn
những điều thấy nghe, từ một cõi biên
thùy đến thành quách, núi sông, đường sá,
v…v...Theo Lê Qúy Đôn thời Hồng Đức
thứ 21 đầu thế kỷ 17, nhà Hậu Lê
đính kèm vào thêm bản đồ cuộc nam chinh
bằng đường biển của Trịnh Sâm qua
Thuận Quảng. Nhà chúa có vẽ thêm đảo Trường
Sa vào chuyến hải hành. Nhưng rất tiếc
tấm chiến đồ nay bị thất lạc.
Đời Nguyễn (1802-1945)
Thời Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), vào năm 1695,
nhà sư Thích
Đại Sán (1633 - 1704),
hiệu Thạch Liêm, quê ở tỉnh Giang
Tây, đến Phú
Xuân theo lời mời của nhà chúa đã
nhắc đến địa danh Vạn lý Trường
Sa trong cuộc hải hành vào thời nhà Thanh năm
1695 trong tập 3 của 6 tập sách của Hải
ngoại kỷ sự.
Một
trang trong Hải ngoại kỷ sự
Trích một đoạn ở trang 19 trong Hải
ngoại kỷ sự:
"…Khách có người bảo: mùa gió
xuôi trở về Quảng
Đông chừng vào độ tiết
lập thu; xuôi chừng bốn năm ngày đêm có
thể đến Hổ
Môn. Ở đấy có những cồn cát
nằm thẳng bờ biển, chạy dài từ đông
bắc qua tây nam, bãi thấp cũng ngang mặt nước
biển; mặt cát khô rắn như sắt, rủi
thuyền chạm vào ắt tan tành; bãi cát rộng
cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm
chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là Vạn lý Trường Sa, mù tít chẳng thấy
cỏ cây nhà cửa. Nếu thuyền bị trái gió
trái nước tất vào, dầu không tan nát, cũng
không gạo không nước, trở thành ma đói mà
thôi. Quãng ấy cách Đại Việt bảy ngày đường, chừng bảy trăm dặm. Thời Quốc vương
trước (Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái), hằng năm
sai thuyền đánh cá đi
dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ
của các thuyền hư tất vào. Mùa thu nước
dòng chảy rút về hướng đông, đưa
thuyền có thể trôi xa cả trăm dặm;
sức gió chẳng mạnh, sợ có hiểm hoạ
Trường Sa…”.
Thời Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái
(1687-1691) có Hải
đội Hoàng Sa,
là tên gọi đội tàu hàng hải với mục
đích hàng năm đi thuyền từ Quảng
Ngãi ra các đảo thuộc quần
đảo Hoàng Sa.
Theo
Lê Quý Đôn ghi
chép trong Đại
Nam thực lục vào năm 1754:
“…Ngày
trước, họ Nguyễn có thiết lập đội
Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã
An Vĩnh bổ sung vào. Mỗi năm luân phiên nhau
đi, tháng giêng nhận giấy làm sai dịch,
được cấp phát mỗi người sáu tháng
lương, chèo năm chiếc thuyền câu nhỏ ra
ngoài biển, phải mất ba ngày ba đêm mới
đến đảo. Ở đó họ tha hồ
bắt chim, bắt cá mà ăn. Họ thu được
những đồ vật của tàu (bị đắm)
như gươm và ngựa bằng đồng, hoa
bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng,
thiếc khối, chì, súng, ngà voi, sáp ong vàng, chiêng,
đồ sứ.
Ðến
kỳ tháng tám, thì đội thuyền đi biển
ấy mới trở về cửa Eo, rồi họ
tới thành Phú Xuân trình nạp các vật đã lượm
nhặt được. Người ta cân và định
đẳng hạn các sản vật, rồi mới
cho đội này bán riêng những con ốc vân,
hải sâm, hải ba. Bấy giờ đội ấy
nhận lãnh thưởng trở về nhà, những
vật hạng lượm nhặt được ngoài
biển có khi nhiều, có khi ít không nhất định,
cũng có lần họ ra đi rồi trở về
không…”.
Lê Quý Ðôn viết tiếp: “Hải đội Hoàng Sa kiêm
quản đội Hải đội Bắc Hải
ở phía nam, trong đó
có Trường Sa. Hải
đội Bắc Hải xuất phát từ Bình
Thuận có nhiệm vụ tuần tiễu
từ đảo
Côn Lôn, đảo
Phú Quý và quần đảo Trường
Sa”.
Và ông cho hay thêm: "Tôi đã
từng thấy một đạo công văn của
quan chính đường huyện Văn Xương,
Quỳnh Châu gửi cho Thuận
Hóa nói
rằng: Năm Càn
Long thứ
18 (1753), có 10 tên phủ Quảng
Ngãi nước An
Nam,
một ngày tháng 7 đến Vạn lý Trường Sa tìm
kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm,
chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió
đứt dây thuyền, giạt vào Thanh Lan cảng nhà
Thanh, quan ở đấy xét thực, Tổng đốc
nhà Thanh hậu cấp cho rồi cho đưa
đưa trả về nguyên quán. Chúa sai viết thư
cảm ơn...".
Vì vậy có thể nói địa danh quần
đảo Hoàng Sa, Vạn Lý Trường Sa (Trường
Sa) đã chính thức được ghi vào văn
bản thời Chúa Nguyễn Phúc Thái và Nguyễn Phúc
Chu.
***
Gia Long (1802-1819) bồi đắp thêm đất
đai vào địa dư chí của Đại
Việt bằng vào năm 1813, truyền quan Binh bộ
thượng thư Lê Quang Định soạn
bộ Đại Nam nhất thống địa
dư chí, gồm 10 quyển. Từ quyển 1 đến
quyển 4, tả đường bộ từ
Quảng Đức (kinh
đô Huế) vào Trấn Biên (Biên
Hòa) và tả đường thủy từ
Gia Định (Sài Gòn) đến Vĩnh Trấn (Vĩnh Long).
Việt Nam thực
lục chính biên chứng minh điều này:
“Năm Bính Tý, năm thứ 15 đời Gia
Long, nhân cuộc đo khoảng cách đường
biển giữa các dinh trấn. Vua ra lệnh cho
lực lượng thủy quân và đội Hoàng Sa
đổ bộ lên Hoàng Sa để thanh tra và khám xét
thuỷ trình và cho dựng cờ Hoàng triều trên
đó”.
Jean Baptiste Chaigneau là một trong hai người Pháp
làm quan dưới thời Gia Long đã ghi nhận thêm
điều trên trong cuốn hồi ký về Giao
Chỉ Chi-Na (Memoires
sur la Cochinchine) J.B. Chaigneau (1769-1825) là xứ
Nam Việt gồm cả quần đảo Paracels cũng
có chép về sự chiếm hữu chính thức
của vua Gia Long:
“….Nam Kỳ, mà nhà vua hiện nay là Hoàng đế
bao gồm bản thân xứ Nam Kỳ, xứ Bắc
Kỳ, một phần của Vương quốc
Campuchia, một số đảo có người ở
không xa bờ biển và quần đảo Paracel
gồm những đá ngầm, đá nổi không có
người ở.
Chỉ đến năm 1816 Hoàng đế
hiện nay mới chiếm lĩnh những đảo
ấy…”.
Vào thời Gia Long, đặc sứ người
Anh Sir Robert Macarthay thương thuyết với
triều đình nhà Nguyễn để thuê Vạn Lý
Trường Sa làm trạm ngừng chân trước
khi đến Quảng Châu và các nước lân
cận nhưng thất bại.
Minh Mạng (1820-1840), cuốn Hoàng
Việt địa dư, ấn hành năm 1835 ghi:
“…Về phía
đông-bắc, làng An Ninh (huyện Bình Sơn) ở
ngoài biển khơi có một quần đảo
gồm có chừng 130 hòn đảo, hòn này cách hòn
kia từ vài giờ cho tới suốt một ngày
đi thuyền. Ở nơi thấp nhất trong
quần đảo này có một giếng nước
ngọt. Trên một hòn đảo ở trung tâm
quần đảo có một thứ cát màu vàng,
bởi vậy mới đặt tên cho là Hoàng Sa. Trên
quần đảo có nhiều loại chim biển khác
rất dạn người, đến gần chúng, mà
cũng không bay đi; lại có nhiều hải
sản quí như đồi mồi, vỏ ốc xà
cừ, ba-ba, hải đởm, v.v...”
Cùng thời Minh Mạng, Phan Huy Chú (1782-1840)
quán Nghệ An xứ Nghệ Tĩnh soạn Hoàng
Việt địa dư chí. Trong Hoàng Việt địa dư chí, Phan Huy Chú có
bản phác họa bản đồ Đại
Nam nhất thống toàn đồ năm 1834
tức Minh Mạng thứ 14. Đại Nam nhất
thống toàn đồ gom hai quần đảo vào làm
một. Tên Hoàng Sa và Vạn
Lý Trường Sa (Trường Sa) được ghi
chú bằng chữ Nho vào
bản đồ vẽ năm 1838, Minh Mạng
thứ 18.
Đại Nam nhất thống toàn đồ
Hoàng Sa & Vạn Lý Trường Sa
Bản đồ này mới nhìn hơi giống
bản đồ trong quyển tự vị của Giám
mục Jean Louis Tabert tên Dictionarium Latino-Anamiticum,
được ấn hành năm 1838
ở Serempore, Pondichery, Ấn Độ. Bản đồ
mang tên An Nam đại quốc họa đồ
(Tabula Geographica Imperii
Anamitici) với hình thể sông núi, duyên hải,
cù lao rõ ràng. Trong
đó có Hoàng Sa và Trường Sa như trong bản
đồ của Phan Huy Chú đã phác họa 4 năm
trước trong Đại
Nam nhất thống toàn đồ. (Cùng năm
1838 trùng vào thời Minh Mạng thứ 18,
cũng năm 1838 sách De
la Cochinchine, J.L. Taberd gọi là “des
Paracels ou de Kat-vang”)
Nhằm phục vụ việc thờ cúng
thần linh cũng như để thuyền bè qua
lại dễ nhận ra đảo. Minh
Mạng đã chuẩn y lời tâu của
Bộ Công, vào tháng 6 năm Minh Mạng thứ 16, sai
Cai đội Thủy quân Phạm Văn Nguyên đem
thợ Giám thành
cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình
Định chuyên chở vật liệu đến
đảo xây ngôi miếu Hoàng Sa Tự, bên hông chùa
còn thấy một cột đá ghi việc dựng chùa
đó. Và trồng cây thủy nam trên đảo Phú Lâm
vào năm 1836. (nguồn khác là đảo Bản Na, năm
1932)
“…Miếu
có một gian theo thể chế nhà đá. Bên trái
miếu, phía trước miếu xây bình phong. Ba
mặt miếu Hoàng Sa bên trái, bên phải và đằng
sau đều trồng các loại cây do trấn
hải quân đến đảo đem theo hạt
giống gieo trồng như hạt quả thủy nam.
Cửa vào miếu khắc hai bên hai câu đối:
“Cô hồn miếu, cô hồn diễu diễu” và
“Hoàng sa tự, bích huyết Hoàng sa”. Trong miếu,
ở bệ thờ phía trên là bức hoành phi có ghi
“Hải bất dương ba” (*) có nghĩa là
"Biển không nổi sóng…".
Sau khi Trung Hoa đổ quân chiếm đóng Phú Lâm
năm 1974, các nhà khảo cổ Trung Hoa đến Hoàng
Sa đã phát hiện ra Hoàng Sa Tự. Trong tạp chí Lữ
hành gia quyển 6 xuất bản năm 1975 tại
Bắc Kinh đã có bài mô tả về Hoàng Sa Tự
như đã nêu ở trên. Hoàng Sa Tự tồn
tại ít nhất đến năm 1975 dường nay
không còn nữa.
(Thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên, theo nhà sư Thích
Đại Sán
thì Hoàng Sa, Trường Sa xa mù tít chẳng thấy
cỏ cây. Tới thời Gia Long qua ông tây Jean Baptiste
Chaigneau thì quần đảo
không có người ở. Nhưng Hoàng Sa gần đất
liền hơn Trường Sa nên có thế vì vậy
Minh Mạng đã cho mang cây cối từ đất
liền trồng trên đảo Phú Lâm và những
đảo khác nữa. Như đảo Sinh Tồn ngày
nay dưới đây chẳng hạn)
Sau Đại Nam nhất thống chí
toàn đồ và những sách địa dư, địa
chí của nhà Nguyễn sau này, phần lớn dựa
theo Phủ biên tạp lục của Lê Quí Ðôn mà
viết, thảng như:
”…Xã Yên Vĩnh, thuộc huyện Bình Sơn,
phủ Quảng Nghĩa. Về hướng đông
bắc, ngoài biển có nhiều đảo cát vàng
(tức đảo Hoàng Sa), chiều dài ước
chừng hơn ba mươi dặm, bằng phẳng và
rộng lớn, nước trong veo nhìn suốt đáy.
Ở bên các hòn đảo, có vô số tổ
yến, còn các thứ chim thì kể đến hàng nghìn
con, hễ thấy người chúng vẫn đậu
quanh người, không hề tránh né. Kề bên
bến, có rất nhiều hải vật lạ lùng. Có
thứ ốc nhiều rằn mang tên là ốc tai voi,
lớn như chiếc nong. Vỏ ốc ấy, nếu
người ta vót đẽo, có thể làm thành bia, cũng
như dùng vỏ ốc làm thành vôi để sơn
quét nhà cửa…”.
(Theo Phủ biên tạp lục, ốc tai voi ở
đảo Ốc Tai Voi
nằm phía nam Hoàng Sa, trong bụng có nhiều hạt
châu to như ngón chân cái lớn . Ốc không đồng
loại với trai sò sinh ra ngọc trắng mà là
đen. Nên được gọi là huyền trân
của người Chàmpa phương nam.
Theo như dân chài ra đảo tìm ngọc thì
trong hàng trăm con ốc, may ra một con có ngọc
tai voi to bằng quả trứng gà. Vua Lê, chúa
Trịnh mỗi năm vào cuối mùa đông,
đưa thuyền đến đảo gom nhặt súng
đạn của tàu đắm trôi dạt vào.
Chỗ bãi cát ấy cũng có đồi mồi,
ốc tai voi. Năm 1780, vua Lê Chiêu Thống cống cho
vua Thanh Cao Tông Càn Long hai viên trân châu ốc tai voi).
Trở lại với Sir John Crawfurd thất
bại với Gia Long về Vạn Lý Trường Sa,
sau tiếp xúc với Minh Mạng để thương
lượng về Cù Lao Chàm làm trạm ngừng chân
nhưng cuối cùng cũng không thành. Đến khi
chiến tranh nha phiến, qua hiệp ước Nam Kinh,
người Anh thuê được Hồng Kông thay vì
Cù Lao Chàm.
Khi người Pháp đặt nền bảo
hộ trên toàn cõi Đông Dương, vào thời Thành
Thái, họ lãnh nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Sa.
Thời đó có hai chiếc tàu lâm nạn, chiếc tàu
Bellona ở ven Bắc đảo vào năm 1895 và
chiếc tàu kia có tên Nhật Iruezi Maru chở đồng
cho người Anh bị đắm tại nhóm đảo
An Vĩnh vào năm 1896. Cả hai chiếc tàu này đã
bị đắm và xác tàu đành bỏ lại đó.
Một bọn người Hải Nam đã tới cướp
mất số đồng họ vớt lên được
đem về Hải Nam rồi đánh tiếng
muốn bán lại cho chủ nhân hai chiếc tàu
bị nạn. Đại diện người Anh
tại Bắc
Kinh đòi nhà
Thanh phải
bồi thường vì có một số đồng
được đem về bán tại đảo
Hải Nam. Tuy nhiên, chính quyền nhà Thanh không chịu
bồi thường, viện cớ quần đảo
Hoàng Sa không thuộc chủ quyền của Trung Hoa.
Họ đưa ra Đại Thanh đế quốc
toàn đồ xuất bản năm 1805, tái
bản lần thứ tư năm 1810 chỉ vẽ
đế quốc Đại Thanh chỉ đến
đảo Hải Nam.
Năm 1909, Tổng Đốc Quảng Đông cho
hai chiến thuyền tới thăm thú trộm
quần đảo Hoàng Sa. Hai chiến thuyền này
đã tới quần đảo ngày mồng 6 tháng 6,
đậu lại ở đó 2 ngày để vẽ
bản đồ địa thế của quần
đảo.
***
Năm 1884, Hòa ước Patenôtre 1884 buộc triều
đình Huế chấp
nhận quy chế bảo hộ.
Năm 1920, chính quyền Pháp với danh nghĩa
là nhà nước bảo hộ Đông Dương,
dựa vào biên bản phân giới mặt biển tính
theo đường ranh giới Brevié cũ của
hiệp ước Pháp-Hoa năm 1887. Chính quyền Pháp
đã tuyên bố chủ quyền trên cả hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1929, phái đoàn Perrier Rouville tiến hành
khảo sát Hoàng Sa.
Hoàng
Sa
Năm 1930, ba tàu Pháp, La
Malicieuse, L’Alerte và L’Astrobale,
tới chiếm quần đảo Trường Sa và
cắm cờ Pháp trên quần đảo này và
nhận Trường Sa là của Pháp.
Năm 1932, Pháp tuyên bố Việt Nam có chủ
quyền Hoàng Sa và Trường Sa.
Vào thời này, có vài công ty Nhật xin phép chính
quyền Pháp đến khai thác phốt-phát trên đảo
Cam Tuyền (Roberts Island) và Lâm đảo (Ile
Boisée). Vì có nhiều công ty ngoại quốc ở
trên đảo, nhiều vấn đề hành chính
đã được đặt ra, nên Pháp ra sắc
lệnh ngày 15-6-1932 đặt quần đảo
Paracels thuộc địa hạt hành chánh tỉnh
Thừa Thiên.
Năm 1935,
lần đầu tiên Trung Hoa Dân Quốc chính thức
công bố một bản đồ thể hiện
cả 4 quần đảo trên biển phía đông là
của Trung Hoa. Công hàm của Công sứ Trung Hoa ở Paris gửi
Bộ Ngoại giao Pháp năm 1932 còn viết rằng: "Các đảo Tây Sa là bộ phận lãnh
thổ Trung Hoa xa nhất về phía Nam". Tưởng
Giới Thạch ký một sắc
lệnh đặt tên Trung Hoa là Tây Sa và Nam Sa cho hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và đặt
chúng thuộc lãnh thổ Trung Hoa.
Năm 1946, quân đội Pháp đưa quân
kiểm soát Hoàng Sa.
Cùng năm 1946, quân đội Tưởng
Giới Thạch đổ bộ lên đảo Phú Lâm
thuộc Hoàng Sa và đảo Itu Aba thuộc Trường
Sa. Năm 1950 họ rút quân về.
Ngày 14.10.1950, theo Công pháp quốc tế, chính
quyền Pháp chuyển giao Hoàng Sa, Trường Sa cho chính
phủ Quốc Gia Việt Nam, khoảng thời gian này
Bảo Đại là quốc trưởng. Dụ
số 10 ngày 30-3-1938 của Bảo Đại tái xác
nhận sắc lệnh của Pháp ngày 15-6-1932.
Hoàng
Sa Trường
Sa
Năm 1951, Mao Trạch Đông đặt vấn
đề “bảo lưu chủ quyền” của
Trung Hoa về hai quần đảo dưới đảo
Hải Nam với chính phủ miền Bắc, đại
diện là Hồ Chí Minh.
Vì tự biết yếu kém về phương
diện pháp lý, Trung Hoa đã chuẩn bị rất
kỹ lưỡng vụ này. Họ đã cho ấn hành
những bản đồ mới cùng những sách
địa lý mới dựa vào bản đồ năm
1909, Tổng Đốc Quảng Đông cho hai chiến
thuyền tới để vẽ bản đồ
địa thế của quần đảo Hoàng Sa.
Trong đó có các địa danh đã được
sửa đổi như Hoàng Sa, Trường Sa,
Paracels, Spratleys thường thấy được ghi
trong các bản đồ cùng các sách địa lý
phổ thông đã bị đổi ra là Nansha, Hsisha,
Chungsha, Tungsha, v.v...
Năm 1954, theo Hiệp định Genève, Hoàng Sa
thuộc phía nam vĩ tuyến 17, đương nhiên
thuộc về chính phủ miền Nam dưới
quyền Ngô Đình Diệm.
Ngày 1.6.1956, Ngô Đình Diệm xác nhận
lại chủ quyền của VN.
Ngày 22.8.1956, một đơn vị hải quân
ra tiếp quản đảo Hoàng Sa, thì hai đảo
lớn nhất đã bị “quân giải phóng Trung
Quốc” chiếm mất. Trên thực tế, chính
quyền VN vẫn liên tục điều hành 4 đảo
chính: Pattle (Hoàng Sa), Robert (Cam Tuyền), Ducan (Quang Hòa
Đông) và Drummond (Duy Mộng). Sau ngày 26 tháng 10, Ngô
Đình Diệm ra lệnh Hải quân VNCH cắm
cờ trên đảo Trường Sa và dựng bia
chủ quyền.
***
Từ năm 1956, việc tranh chấp (****) hai
đảo bị Trung Hoa chiếm đóng vẫn
tiếp tục diễn ra giữa VNCH và Trung Hoa. Năm
1974, Hải quân VNCH phát hiện toán quân Trung Hoa trong
hải phận đảo Ducan và Drummond. Ngày 19-1-1974
hải quân của chính phủ miền Nam khai hỏa vì
Trung Hoa mang tầu chiến tới chiếm Hòang Sa.
(Hoàng Sa cách Cù lao Ré 315 km
và cách đảo Hải Nam
322 km)
Ngày 14-2-1988, Trung Hoa đưa 4 tàu chiến
tới Trường Sa. Ngày 14-3-1988, họ khai hỏa
với hải quân chính phủ miền Bắc. Sau
đó đánh chiếm đảo Gác Ma và dần
dần chiếm thêm một số những hòn đảo
nhỏ khác.
(Trường Sa cách Cam
Ranh 470
km
và cách Vũng
Tàu khoảng 500 km)
Thạch
trúc gia trang
Giáp Ngọ 2014
Phi
Ngọc Hùng Chú
thích : (*)
Với hồn Trương
Ba, da hàng thịt, tên bài viết được vay mượn
từ bức hoành phi trong ngôi miếu Hoàng Sa Tự
được Minh Mạng lập trên đảo vào năm
1835. Cửa
vào miếu có khắc hai bên hai câu
đối:
“Cô
hồn miếu, cô
hồn diễu diễu”
và “Hoàng
sa tự, bích huyết Hoàng sa”.
Trong miếu, phía
trên là bức hoành
phi có ghi: “Hải
bất dương ba” có nghĩa là biển
không nổi sóng. (**)
1 hải lý = 1,852 km (***)
Theo Trịnh Hoà hàng hải đồ (1371-1435),
nguyên danh Tự Bảo thuyền xưởng khai
thuyền tòng Long Giang Quan xuất thuỷ trực để
ngoại quốc chư phiên, thì: Tháng
9 năm 2011, Thư viện Đại Học Oxford
[Bodleian Library] công bố bản một địa
đồ Trung Hoa với tiêu đề The
Selden Map of China,
phỏng định được thực hiện năm
1644 thuộc thời
Minh, nội dung mang tính chất địa đồ hàng
hải. -
Vạn Lý Thạch Đường là hòn đảo
nằm ở phía đông đảo Ngoại La
[tức đảo Lý Sơn], vượt qua Ngoại
La là lục địa, hơi chếch về bắc là
địa danh Quảng Nam, Thuận Hoá và hơi
chếch về nam là địa danh Tân Châu [tức Quy
Nhơn], Chiêm Thành. -
Vạn Lý Trường Sa, địa danh này được
ghi kèm bốn chữ “Tự thuyền phàm dạng”
[giống như hình cánh buồm], “Vạn Lý Trường
Sa, tự thuyền phàm dạng” được
viết thành hai hàng dọc liền nhau và đặt bên
trong khung viền giống như mảnh vải bay lượn. Về
nguồn gốc, bản đồ nguyên thuộc
sở hữu của luật sư người Anh John
Selden (1584–1654), thể theo di nguyện của ông, gia
đình đã tặng nó cho Thư viện Đại
học Oxford vào năm 1659, từ đó được
cất giữ đến nay. Các ghi chú và hình vẽ
trên bản đồ cho thấy rằng có thể
bản đồ này đã chịu ảnh hưởng
rất nhiều từ các bản đồ Tây phương. Về
hoạ pháp, đường nét và cách tô màu trên
bản đồ không mang phong cách/quy tắc vẽ
địa đồ và phương pháp hội
hoạ truyền thống Trung Hoa. Các điểm
dễ nhận thấy là, trong cách biểu thị
mặt biển, đường nét “thuỷ ba” (sóng
nước) trên Hải đồ không đã định
hình vốn là đặc trưng truyền thống,
vật thể tự nhiên như cây, đá cùng
vật thể kiến trúc đều vẽ không
hợp cách. Đối với lời chú “giống như
hình cánh buồm” đi kèm địa danh Vạn Lý
Trường Sa cũng cho một bất ngờ,
hầu hết các địa đồ cổ Trung Hoa,
trước và sau đều không đính kèm lời
chú giống như vậy cạnh nơi được
tiêu danh Trường Sa hoặc Vạn Lý Trường
Sa. (Nguồn: Phạm Hoàng Quân). (****)
Hoàng Sa và Trường
Sa tại Hội nghị San Francisco Tuy nhiên theo quy ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) hiện nay không cho phép bất cứ một quốc gia nào đòi xác định chủ quyền chỉ dựa trên lịch sử của họ. (Nguồn: Mai Loan) |