Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ
  KS Nguyễn Văn Phy


 

Hiệp định Geneve 20.7.1954 đă chia đôi đất nước Việt Nam. Từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc theo chế độ Cọng Sản. Từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam theo chế độ Cọng Hoà. Ngoài Bắc, vào thập niên 1960, 1970 có thủ tướng Phạm Văn Đồng. Trong Nam có  Nguyễn Ngọc Thơ đă một thời từng là Quận trưởng, Tỉnh Trưởng rồi đến Bộ trưởng, Phó Tổng Thống và Thủ Tướng của nước Việt Nam Cọng Hoà là con cháu ḍng họ Nguyễn đă từng theo pḥ chúa Nguyễn Phúc Ánh năm 1774. Cả hai nhân vật lịch sử có cùng quê quán Quảng Ngăi. Thủ tướng Bắc Việt được nhiều người nhắc đến qua Công hàm 14.9.1958. Phó Tổng Thống và cũng là Thủ tướng miền Nam Việt Nam được thế giới chú ư đến qua cuộc Cách Mạng 01.11.1963, đó là ông Nguyễn Ngọc Thơ.   

Ông Nguyễn Ngọc Thơ và cuộc đời:  

Ông Nguyễn Ngọc Thơ sinh ngày 26 tháng 5 năm 1908 ở Mỹ Phước, Long Xuyên, An Giang. Mất năm 1976 tại Sài G̣n. Cha ông là Nguyễn Ngọc Chơn. Gia đ́nh rất giàu có. Ông Chơn có đầu óc canh tân và Tây học.  

Thời niên thiếu học trường Chasseloup-Laubat, ông rất giỏi về Pháp văn. Sau khi đậu tú tài phần triết học (Bachot metro-politain, Mentio Philo) ông không được đi du học v́ lúc đó ông có bịnh đau tim. Nhưng sau nầy, người anh con ông bác ruột tốt nghiệp bác sĩ khám bịnh cho ông th́ biết bịnh đau tim không c̣n nữa.  

Kể từ năm 1930, ông đă bắt đầu làm việc ngạch hành chánh. Sau khi thi đậu vào Tri Huyện, ông làm việc ở Phủ Thượng Thơ, rồi Phủ Toàn quyền và làm Bộ trưởng Nội vụ của Quốc Gia Việt Nam.

Năm 1946 ông được bổ nhiệm làm quận trưởng Ô Môn, rồi Thốt Nốt. Năm 1948 làm quận trưởng Châu thành, Long Xuyên.

Những năm 1948, 1949, 1950, 1951 được bổ nhiệm làm Tỉnh Trưởng Long Xuyên, Cần Thơ. 

Với chức vụ Tỉnh Trưởng, ông có dịp trổ hết tài tổ chức của ḿnh để sửa sang Châu Thành, Long Xuyên. Ông đă kiến thiết lại tất cả phố xá có nền nhà thấp, hàng năm bị ngập nước vào mùa lũ lụt phải đắp nền móng cao hơn hoặc sửa chửa hoặc xây cất trở lại.

Những con đường giao thông thấp phải được đắp cao. Những con đường hẹp phải được mở rộng cho việc lưu thông dễ dàng. Mở thêm công viên để cho dân chúng có nơi thăm viếng. Ông đă cho lấp kinh Mỹ An Kiều và cho xây đắp một đại lộ lịch sự nhất Châu Thành lúc đó là đường Tự Do hiện nay.

Các công sở cũng được kiến thiết và xây cất trở lại, tốt đẹp và rộng răi hơn xưa.

Về việc học hành trong tỉnh, Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Thơ cũng cho mở thêm trường học năm 1948, 1949. Mặc dù không có sự tài trợ của chính phủ lúc bấy giờ, nhưng với quyết tâm ông đă tạo nhiều điều kiện học tập cao hơn bậc tiểu học cho con em trong tỉnh nhà bằng cách cho xây dựng thêm trường trung học. Ban đầu chỉ có 2 lớp đệ nhất niên. Sau đó mỗi năm mở thêm được 2 lớp cho tới tú tài 1, rồi tú tài 2. Các trường tiểu học và sơ học cũng được mở thêm rất nhiều.  

Khi nền Đệ nhất Cọng hoà được thành lập năm 1955, ông Nguyễn Ngọc Thơ được bổ nhiệm làm Đại sứ nước Việt Nam Cọng Hoà tại Nhật Bản.  

Năm 1956 Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm triệu hồi ông về Việt Nam và bổ nhiệm làm Quốc Vụ Khanh Kinh tế Quốc gia (tương đương cấp Bộ Trưởng). Vào tháng 11 năm 1956 ông được bổ nhiệm chức vụ Phó Tổng Thống và được Quốc Hội phê chuẩn vào tháng 12 cùng năm chiếu theo Hiến Pháp nền Đệ Nhất Cọng Hoà.  

Kể từ tháng 11 năm 1963 đến tháng 2 năm 1964 ông Nguyễn Ngọc Thơ được Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng bổ nhiệm làm Thủ Tướng nước Việt Nam Cọng Hoà.

Ngày 30.1.1964 Trung tướng Nguyễn Khánh làm 1 cuộc chỉnh lư và truất phế các tướng lănh chủ chốt trong cuộc Cách Mạng 1.11.1963.

Ngày 28.2.1964 Nguyễn Khánh truất phế chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ và lên làm thủ tướng. Sau đó, v́ lư do sức khoẻ ông không c̣n tham dự vào chính trường.  

Ông Nguyễn Ngọc Thơ và quê hương Quảng Ngăi:  

Quảng Ngăi đă được khai phá từ đầu thế kỷ 15 (năm 1402) khi Hồ Quư Ly đem quân đánh Chiêm Thành. Lúc đó Quảng Ngăi được gọi là châu Thăng, châu Hoa, châu Tư, châu Nghĩa và nằm ở phía Nam của Quảng Nam trấn. Từ những năm 1414-1427, thời gian quân Minh qua xâm chiếm nước ta, quân Chiêm Thành đă quấy phá và chiếm lại 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa. Đến đời vua Lê Thánh Tông (1471) th́ mới b́nh định được vùng đất nầy và được đặt tên là Phủ Tư Nghĩa. Đến khi chúa Nguyễn Hoàng (1558) vào trấn thủ đất Thuận Hoá, kiêm thủ lănh trấn Quảng Nam gồm cả phủ Tư Nghĩa. Đến năm 1604, phủ Tư Nghĩa đổi thành tỉnh Quảng Nghĩa.  

Về di tích lịch sử, ở Quảng Ngăi có 1 trường luỹ dài 127 cây số từ phía bắc quận Trà Bồng chạy dọc theo Trường Sơn phía tây Quảng Ngăi cho đến An Lăo phía bắc tỉnh B́nh Định. Tường cao 4 m và rộng 2,5 m. Theo tài liệu lịch sử th́ một phần bức tường đă được khởi sự xây dựng từ thời thống chế Bùi Tá Hân (1496-1568) khi ông là quan trấn thủ ở Quảng Nam. Đến năm 1819 triều Gia Long, Tả Quân Lê Văn Duyệt mới thực sự xây dựng trường luỹ, nhằm ngăn chận quân Man thuộc dân tộc thiểu số Hre xuống phá hoại đồng bằng người Kinh tại Quảng Ngăi.  

Tại xă Sơn Châu (Tịnh Châu), quận Sơn Tịnh nằm ở phía Đông núi Thiên Ấn khoảng 3 cây số, th́ có thành Châu Sa của người Chăm, c̣n được gọi là thành Đại La, hiện nay vẫn c̣n. Bờ thành rộng 4 m, chiều cao 6 m.  

Ngoài ra Quảng Ngăi có thập nhị thắng cảnh. Nỗi tiếng nhất là Thiên Ấn Niêm Hà bên Long Đầu Hư Thuỷ. Long sơn, thân rồng uốn lượn ở phía tây bên núi Thiên Ấn, quận Sơn Tịnh. Đầu rồng tiếp giáp sông Trà, uốn lượn bên làng Ân Phú trước  khi ra Cổ Luỹ Cô Thôn. Trên núi Thiên Ấn có chùa Thiên Ấn lâu đời. Có mộ của nhà chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng.  

Nói về nhân vật có tên tuổi xứ Quảng Ngăi th́ nhiều: Như thời quân chủ có Tả Quân Lê văn Duyệt, ông nội ở làng Bồ Đề, Mộ Đức Quảng Ngăi. B́nh Tây Đại Nguyên Soái Trương Công Định người làng Mỹ Khê, Sơn Tịnh. Cử nhân Lê Trung Đ́nh người làng Phú Nhơn, quận Sơn Tịnh là nhà chí sĩ yêu nước trong phong trào Cần Vương. Nguyễn Thân, người làng Thạch Trụ, Mộ Đức.

Phía Quốc Gia th́ có Thống Tướng Lê văn Tỵ với gốc gác  Quảng Ngăi. Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ có gốc ở làng An Vĩnh, Sơn Tịnh.

Phía Cọng sản có Thủ tướng Phạm Văn Đồng ở Mộ Đức; tướng Trần văn Trà ở xă Sơn Hội, Sơn Tịnh; tướng Trần Quư Hai ở xă Sơn Châu, Sơn Tịnh. Chủ tịch nước CHXHCNVN Trần văn Lương ở Đức Phổ.

Về văn chương có thi văn sĩ Nguyễn Vỹ ở xă Phổ Nghĩa, Đức Phổ, thi sĩ Bích Khê, tên thật Lê Quang Lương ở xă Phước Lộc, Sơn Tịnh và thi sĩ Tế Hanh (Trần Tế Hanh) ở B́nh Sơn.  

Ông Nguyễn Ngọc Thơ và nguồn gốc họ Nguyễn:  

Nói về nguồn gốc của Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ cũng nên đề cập về gia đ́nh ông Nguyễn Hoàng vào hậu bán thế kỷ 17 (1660-1700) ở đất Bắc vào Quảng Nghĩa những năm 1750, rồi pḥ và dấu chúa Nguyễn Phúc Ánh tại làng An Vĩnh, Quảng Nghĩa năm 1774. Sau đó ḍng họ Nguyễn ở làng An Vĩnh pḥ chúa Nguyễn Phúc Ánh đi vào Nam và khai sinh ḍng họ Nguyễn ở miền Nam, chi phái Nguyễn Ngọc Thơ.  

Vào đầu bán thế kỷ 18, khoảng những năm 1730-1745, ở vùng Thanh Hoá, hai người con trai của gia đ́nh ông Nguyễn Hoàng, là Nguyễn Bàn và Nguyễn Kiêm nằm mộng đều cùng thấy câu „Hoàng Thân Nhất Đới, Vạn Đại Dung Thân“ hiện lên bức tường. Sáng hôm sau hai anh em Bàn và Kiêm tâu với cha Nguyễn Hoàng, và cha Nguyễn Hoàng bàn rằng:  

„Hai câu đó là đúng sự thật. Một chum nước đầy có nhiều gáo dùng, thế nào nó cũng khua giọng, đổ. Khuyên các con cháu trong họ Nguyễn hay các họ Lê, Trần v.v., nếu làm Quan phải bị nạn, vợ con đói khổ. V́ hiếu với dân phải bị quan nịnh Triều cũng bị rơi đầu. C̣n trung với nước, với vua th́ nhân dân đói khổ lầm than. Vậy hai anh em phải vào Nam, t́m nơi khai khẩn lập nghiệp, làm ăn giàu có, con cháu sung măn đời đời.“  

Sau đó 2 anh em Nguyễn Bàn và Nguyễn Kiêm mới di cư vào tỉnh Quảng Nghĩa khoảng những năm 1750 để lập nghiệp. Người em là Nguyễn Kiêm đến làng Đồng Xuân, nay là xă Tịnh Hoà. Sau nầy người con của ông Nguyễn Kiêm là Nguyễn Tấn Đức di chuyển vào làng Thạch Trụ, huyện Mộ Đức, Quảng Nghĩa định cư.

Người anh là Nguyễn Bàn đến làng An Vĩnh, nay là xă Tịnh Kỳ, thời VNCH là xă Sơn Hải, một làng ven biển gần biển Mỹ Khê, cách đảo Lư Sơn khoảng 20 cây số, thuộc huyện Sơn Tịnh (trước năm 1890 thuộc huyện B́nh Sơn) để lập nghiệp.  Ông Nguyễn Bàn sinh được 3 người con trai: Con trưởng là Nguyễn Lại, con thứ 2 là Nguyễn Tri Phương sau đổi tên thành Nguyễn Quang Huy, người con thứ 3 là Nguyễn Quang Ba.  

Ḍng họ Nguyễn Ngọc Thơ cứu chúa Nguyễn Phúc Ánh:  

Năm 1774, khi quân chúa Trịnh từ ngoài Bắc vào chiếm Phú Xuân, th́ chúa Nguyễn chạy vào Quảng Nam. Ở Quảng Nam cũng bị quân Tây Sơn vây đánh. Thế đường cùng, chúa Nguyễn để Đông Cung ở lại Quảng Nam chống đánh với quân Tây Sơn, c̣n Chúa Nguyễn Phúc Ánh (c̣n gọi là Nguyễn Ánh, sinh ngày 08 tháng 2 năm 1762 tức là ngày 15 tháng giêng năm Nhâm Ngọ) chạy thoát được. Lúc đó chúa Nguyễn Phúc Ánh được 13 tuổi. Ông Nguyễn Tri Phương và Nguyễn Quang Ba của ḍng họ Nguyễn theo pḥ chúa Nguyễn Phúc Ánh đă đưa chúa Nguyễn Phúc Ánh vào làng An Vĩnh, huyện B́nh Sơn (nay là quận Sơn Tịnh), trấn Quảng Nghĩa để tuyển mộ binh lính, dấy binh chống lại quân Tây Sơn. Lúc đó quân Tây Sơn đóng quân ở dưới chân núi Thiên Ấn, bên ḍng sông Trà Khúc hay tin nên đem quân xuống làng An Vĩnh cách núi Thiên Ấn khoảng vài chục cây số để truy nă chúa Nguyễn Phúc Ánh. Bị bại lộ, ông Nguyễn Tri Phương và ḍng họ Nguyễn Bàn đem dấu chúa Nguyễn Phúc Ánh trong một hang Rái cá c̣n gọi là gành Rái hay là ḷ rượu v́ hang đá được trông giống như ḷ nấu rượu vậy. Chính giữa có cái hang và xung quanh là các phiến đá. Khi sóng biển lớn rái cá chun vào đó ẩn núp. Hang Rái cá hiện nay vẫn c̣n tại làng An Vĩnh.  Khi quân Tây Sơn bố ráp tới đó th́ chỉ thấy nhiều con rái cá từ trong hang rái chạy ra và thấy toàn là dấu chân rái cá mà thôi. Quân Tây Sơn không t́m thấy dấu vết Chúa Nguyễn Phúc Ánh ở đâu cả nên quân Tây Sơn mới bỏ đi.

Sau đó ông Nguyễn Tri Phương đă đưa chúa Nguyễn phúc Ánh ra đảo Lư Sơn rồi tiếp tục pḥ chúa Nguyễn Phúc Ánh vào Nam bằng chiến thuyền. Hiện nay tại đảo Lư Sơn c̣n cái giếng nước ngọt được đào từ thời chúa Nguyễn Phúc Ánh năm 1774. Theo như sự truyền miệng trong ḍng họ Nguyễn th́ ông Nguyễn Tri Phương c̣n pḥ chúa Nguyễn Phúc Ánh qua Xiêm La là Thái Lan hiện nay.  

Sau khi chúa Nguyễn Phúc Ánh vào miền Nam và tiếp tục tuyển mộ binh lính chống với quân Tây Sơn th́ việc pḥ chúa và cất dấu chúa Nguyễn Phúc Ánh tại làng An Vĩnh ở Quảng Nghĩa bị bại lộ và ḍng họ Nguyễn tại làng An Vĩnh bị quân và triều đ́nh Tây Sơn truy nă và kết án trọng tội. V́ vậy ḍng họ Nguyễn tại làng An Vĩnh phải phân tán và trốn đi khắp nơi.  

Sau nầy chúa Nguyễn Phúc Ánh thắng quân Tây Sơn th́ ông Nguyễn Tri Phương ở lại trong miền Nam, đổi tên là Nguyễn Hửu Cúc, lập gia đ́nh, tại quận Thốt Nốt vùng Long Xuyên, Châu Đốc và khai sinh ra ḍng họ Nguyễn Ngọc Thơ. Ông Nguyễn Ngọc Thơ là cháu đời thứ 5 và  gọi ông Nguyễn Hửu Cúc là ông cao.  

Ḍng họ Nguyễn Ngọc Thơ tại Quảng Ngăi:  

Năm 1801 chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi Hoàng Đế lấy niên hiệu là Gia Long. Vua Gia Long nhớ ơn ḍng họ Nguyễn đă cứu chúa năm 1774 th́ có Sắc Phong ban cho ḍng họ Nguyễn tại làng An Vĩnh quan tước Công Hầu. Nhưng lúc bấy giờ ḍng họ Nguyễn không c̣n ai ở tại làng An Vĩnh, chỉ có bà cô độc thân, không có con, nên bà ấy bán Sắc phong Công Hầu cho họ Trương ở làng Mỹ Khê gần đó.

Sau đó mấy năm th́ các anh em họ Nguyễn mới trở về làng An Vĩnh.  

Năm 1840 có ông Nguyễn Đễ c̣n gọi là Nguyễn Dơng, trưởng phái, cháu gọi ông Nguyễn Tri Phương (Nguyễn Hửu Cúc) là ông nội chú từ làng An Vĩnh lên buôn bán tại làng Ân Phú, cách thị trấn Quảng Ngăi khoảng 1,5 cây số, cách núi Thiên Ấn khoảng 1 cây số, được ông quan triều Minh Mạng bậc Tam phẩm, cấp Vệ Uư, nguyên là Tổng Lănh Binh ở Vĩnh Long  tên là Nguyễn văn Phượng (con của Đô uư Nguyễn Văn Hiệp) nhận làm con nuôi. Thời vua Thiệu Trị quan Nguyễn Văn Phượng được thăng lên bậc Nhị Phẩm (Thống chế). Ông Nguyễn Để khai sinh ra ḍng họ Nguyễn tại làng Ân Phú. 

Người viết bài nầy là cháu đời thứ 5 của ông Nguyễn Đễ.  

Ngoài ra, vào thời triều Minh Mạng và Thiệu Trị, gia đ́nh họ Nguyễn tại làng An Vĩnh, ông Nguyễn Khê đă tham dự Đội Thuyền đi Hoàng Sa.  

Nghiên cứu tiếp tục về nguồn gốc của ông Cao tổ ḍng họ Nguyễn Hoàng ở đất Bắc th́ ông Nguyễn Hoàng là ông nội của ông Nguyễn Hửu Cúc thuộc ḍng họ Nguyễn ở đất Bắc trực thuộc ḍng họ Nguyễn Phi Khanh đời thứ 9.3 (?). Nếu đúng như vậy th́ ông Nguyễn Ngọc Thơ là đời thứ 16 so với Thuỷ tổ Nguyễn phi Khanh (1355-1428). Ghi chú: Sở dĩ gia phả ḍng họ Nguyễn ở đất Bắc không c̣n là v́ khi quân Tây Sơn truy nă ḍng họ chúng tôi với tội danh đă cứu chúa Nguyễn Ánh nên gia phả đă phải bị tiêu huỷ hoặc làm thất lạc với mục đích là không cho biết nguồn gốc của ḍng họ ngoài đất Bắc (?).   

http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/2067/pha_he.html  

Tóm lại, nguồn gốc họ Nguyễn của ông Nguyễn Ngọc Thơ xuất phát từ  ḍng họ Nguyễn Hoàng (sinh vào thời kỳ hậu bán thế kỷ 17 (1660-1700) ở đất Bắc và ông Nguyễn Hoàng là con cháu đời thứ 9.3 của ḍng họ Nguyễn, Thủy Tổ Nguyễn Phi Khanh (?).

Những năm 1960, 1962 Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ đă về thăm nhà thờ họ Nguyễn của chúng tôi (nhà thờ Từ Đường) tại làng An Vĩnh, xă Sơn Hải, quận Sơn Tịnh, quê hương Quảng Ngăi, nơi mà ḍng họ chúng tôi cứu và theo pḥ chúa Nguyễn Ánh vào hậu bán thế kỷ 18.  

KS Nguyễn Văn Phảy  
vgpgermany@gmx.net

Tài liệu nghiên cứu:          - Những Gia Phả Ḍng Họ Nguyễn
                                          - Non Nước Xứ Quảng
 

 

 

trở lại