Thực chất chiến tranh Việt Nam và cuộc chiến cách tân Việt Nam khỏi chủ nghĩa Cộng Sản.

Lê Quế Lâm

                                                                                                                  

Chiến tranh Việt Nam

Bốn mươi năm nh́n lại biến cố 30/4/1975, ông Phạm Đ́nh Trọng -cựu Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam đă nhận xét “Suốt 40 năm qua, hệ thống tuyên truyền khổng lồ của Đảng Cộng Sản Việt Nam tự huyễn hoặc ḿnh và lừa dối người dân về ngày 30/4/1975 là ngày huy hoàng đại thắng, ngày vẻ vang thống nhất đất nước. Cuộc chiến “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” hay cuộc “kháng chiến chống Mỹ cứu nước” thực chất chỉ là cuộc nội chiến tội lỗi, người Việt bắn giết người Việt.

“Trước nguy cơ sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa, một chính quyền được tổ chức theo mô h́nh dân chủ văn minh, có tam quyền phân lập thực sự, nhờ thế người dân miền Nam bước đầu đă có tự do dân chủ thực sự, một chính quyền đang chiến đấu ngăn chặn sự tràn lan bạo lực cộng sản. Trước nguy cơ cả Đông Nam Á bị tràn ngập trong sắt máu bạo lực cộng sản, năm 1965, sáu năm sau nghị quyết 15 của Đảng Cộng Sản Việt Nam sử dụng bạo lực thâu tóm miền Nam, gần sáu năm sau tiếng súng nội chiến bùng nổ ở miền Nam, Mỹ mới đưa quân vào miền Nam cứu đồng minh Việt Nam Cộng Ḥa trước nguy cơ sụp đổ và củng cố một tiền đồn ngăn chặn cơn thác lũ cách mạng bạo lực cộng sản đang ở đỉnh cao trào.

Đối với Hoa Kỳ, ông Phạm Đ́nh Trọng nhận định: “Năm 1965, quân đội Mỹ đổ vào Việt Nam cũng như như năm 1944 quân đội Mỹ đổ bộ vào châu Âu trong chiến tranh thế giới thứ hai, cũng như năm 1950 quân đội Mỹ đổ bộ lên bán đảo Triều Tiên đều không có mục đích xâm lược, không đánh chiếm lănh thổ mà chỉ làm trách nhiệm của một đồng minh và làm trách nhiệm của một nước lớn bảo đảm một thế giới ổn định, công bằng, bảo vệ những giá trị tự do, dân chủ của con người, ngăn chặn thảm hoạ phát xít thời thế chiến thứ hai và ngăn chặn thảm họa cộng sản đang như bệnh dịch nhấn ch́m thế giới vào hận thù đấu tranh giai cấp, vào bạo lực chuyên chính vô sản và nô dịch con người” (Phạm Đ́nh Trọng: Cần gọi đúng tên cuộc chiến này)

Cái nh́n về Hoa Kỳ của ông Phạm Đ́nh Trọng ngày nay cũng tương tự như nhận định 30 năm trước của ông Nguyễn Cơ Thạch, nguyên Ủy viên Bộ chính trị, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao từ 1980 đến 1991. Ông Thạch cho rằng: Mỹ đưa quân vào Việt Nam không phải như người Pháp làm trước đó. Mỹ không muốn biến Việt Nam thành một thuộc địa và không có ham muốn lănh thổ. Mỹ xâm lược Việt Nam v́ sợ sự bành trướng của Liên Sô và Trung Cộng xuống Đông Nam Á.

Nh́n lại 40 năm qua, người viết nhận thấy cuộc chiến VN chưa kết thúc ngày 30/4/1975. Sau khi “giải phóng”miền Nam để tăng cường phe XHCN, đầu tháng 11/1978 Lê Duẩn đến Mạc Tư Khoa cùng Brezhnev kư Hiệp ước hợp tác Sô-Việt và đưa quân xâm lược Cam Bốt trong mùa Giáng sinh 1978. Họ lấy cớ giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot để xóa bỏ nhà nước Campuchia Dân chủ và dựng lên nước Cộng ḥa Nhân dân Campuchia do số cán bộ Khmer Đỏ thân VN lănh đạo.

Ngay sau đó, Bắc Kinh lên án “tiểu bá” Việt Nam liên kết với “đại bá” Liên Sô thực hiện mưu đồ bá quyền ở Đông Nam Á. Tự nhận có nghĩa vụ quốc tế bảo vệ nền độc lập các nước Thế giới thứ ba, lănh tụ Trung Cộng Đặng Tiểu B́nh khi đến Mỹ hồi tháng Giêng 1979 đă hô hào “Trung Quốc, Tây Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ cần phải thống nhất trong một liên minh chống bá quyền”.Trên đường về nước, Đặng ghé Tokyo, tuyên bố sẽ “trừng phạt Việt Nam nặng nề”. Cuối năm 1979 Liên Sô đưa quân xâm lược Afghanistan, một nước trung lập trái độn giữa Liên Sô và Trung Quốc. Từ đó, Trung Quốc khẳng định đối tượng chiến tranh của Bắc Kinh là “Đại bá” Liên sô và “tiểu bá” Việt Nam.

Phát động chiến tranh giải phóng miền Nam, CSVN nói rằng v́ nghĩa vụ dân tộc, nhưng họ không ḥa giải dân tộc lại thực hiện giai cấp đấu tranh để bành trướng ảnh hưởng Liên Sô cả nước VN. Sau đó, xâm lược Cam Bốt để bành trướng ảnh hưởng Liên Sô ở Đông Dương. V́ thế tên gọi chiến tranh VN trung thực nhất là Chiến tranh bành trướng bá quyền Liên Sô ở Đông Dương.

Để chống cuộc chiến này, Trung Quốc dựa vào chiêu bài “bảo vệ quyền tự quyết, bảo vệ nguyên tắc không can thiệp vũ trang vào các nước khác” tố cáo CSVN xâm lược Campuchia nhằm thực hiện mưu đồ thành lập Liên bang Đông Dương Cộng Sản, mở rộng ảnh hưởng Liên Sô ở châu Á. TQ duy tŕ “vấn đề Campuchia” để lôi kéo Mỹ, Nhật và ASEAN đứng vào liên minh với họ để chống Liên Sô và bao vây cô lập VN.

Tại Đại hội đồng LHQ khóa 34 (1979) 91/112 quốc gia đă biểu quyết lên án hành động dùng vũ lực can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia và yêu cầu quân xâm lược CSVN phải triệt thoái tức khắc. Số quốc gia lên án Hà Nội ngày càng gia tăng từ 1979 đến 1989. Campuchia Dân chủ với Chính phủ liên hiệp kháng chiến ba thành phần chống CSVN xâm lược được đa số các nước hội viên LHQ thừa nhận. Trưóc áp lực của quốc tế, cuối cùng Gorbachev phải chấp nhận đ̣i hỏi của Đặng Tiểu B́nh áp lực bộ đội CSVN phải rút khỏi Campuchia vào cuối năm 1989. Ngày 23/10/1991 Hiệp định chấm dứt chiến tranh tái lập ḥa b́nh ở Cam Bốt được kư kết ở Paris. Chiến tranh bành trướng bá quyền Liên Sô ở Đông Dương kể như chấm dứt. Hai tháng sau Đảng Cộng Sản Liên Sô và Liên Bang Sô Viết tan ră.

Trong hơn nửa thế kỷ, CSVN đă tự nguyện làm tên lính xung kích đầu tiên của phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa do Stalin phát động để bành trướng chủ nghĩa cộng sản Liên Sô, khiến dân tộc gánh chịu ba cuộc chiến tàn khốc. Nay chiến tranh bành trướng bá quyền Liên Sô đă phá sản, Liên Sổ sụp đổ, CSVN lại tự nguyện đến Thành Đô giúp Trung Cộng thực hiện chiến lược bành trướng đại dân tộc để Đảng CSVN được tồn tại. Có điều may mắn là Mỹ đă can dự vào chiến tranh VN.

Cuộc chiến cách tân VN khỏi chủ nghĩa cộng sản:

 

 Nhân kỷ niệm 35 năm biến cố 30/4/1975, đầu năm 2010 Tiến sĩ Roger Canfield xuất bản quyển “Comrades In Arms: How the Ameri-cong won the Vietnam War against the common enemy-America” (Bạn đồng đội: làm thế nào bọn Mỹ-Cộng đă chiến thắng trong cuộc chiến VN chống lại kẻ thù chung của Mỹ). Tác giả nhận định “Kết quả cuộc chiến là người Mỹ đă thua mặt trận chính trị ngay tại Quốc hội Hoa Kỳ năm 1975 và ảnh hưởng của truyền thông và các phong trào ḥa b́nh-phản chiến, chớ quân Mỹ không thua trận do bị cộng quân đánh”. Nhân dịp này Đài VOA đă phỏng vấn Giáo sư Carlyle A. Thayer-một chuyên viên hàng đầu về VN tại Học viện Quốc pḥng Úc Đại Lợi, Đại học NSW, về nhận định của Tiến sĩ Canfield. G/s Thayer trả lời “Cuộc chiến VN là cuộc chiến cách mạng kéo dài. Và hiểu theo cách cộng sản, đó là cuộc chiến kết hợp giữa quân sự và chính trị. Đó là cuộc đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao. Tôi không đồng ư với ư kiến  cho rằng HK thua tại mặt trận ở quê nhà. Có rất nhiều cuộc nghiên cứu sâu rộng về vai tṛ của truyền thông trong cuộc chiến này, nhưng không có kết quả nào ủng hộ ư kiến cho rằng phong trào phản chiến tại Mỹ đă thành công trong việc dẫn tới việc Mỹ rút quân khỏi VN. Tôi cũng không đồng ư với quan điểm cho rằng Hoa Kỳ thua trận. Cuộc chiến mà Hoa Kỳ đương đầu là một cuộc chiến cách mạng kéo dài và v́ thế nói thắng hay thua là không hợp lư, v́ theo thời gian mục tiêu của nước Mỹ thay đổi. Mỹ đă không thành công trong việc duy tŕ độc lập cho phe Cộng Ḥa ở VN. Đây không phải là cuộc chiến tranh hiểu theo nghĩa thông thường là một quốc gia xâm lược một nước khác, mà đây là cuộc cách mạng đổi mới, một cuộc chiến cách tân VN khỏi chủ nghĩa Cộng sản” (Trà Mi, VOA, 23-3-2010)

Người viết luôn cho rằng chính giới Mỹ đă lợi dụng phong trào ḥa b́nh-phản chiến để thực hiện mục tiêu chiến lược của họ.Trong những năm đầu 1965-1967, truyền thông báo chí ủng hộ chính quyền Johnson can thiệp vào VN. Đến khi áp lực Hà Nội ngồi vào bàn đàm phán sắp đạt kết quả, từ cuối năm 1967 các phong trào ḥa b́nh phản chiến bắt đầu bùng phát đ̣i chính phủ rút quân khỏi VN. Họ đă thể hiện “đệ tứ quyền” để bày tỏ nguyện vọng. Sau khi Hiệp định Paris 1973 ra đời, Quốc hội Hoa Kỳ giảm dần viện trợ quân sự cho VNCH.Thời gian HK dùng sức mạnh áp lực Hà Nội phải đàm phán là hai năm, tương đương với thời gian Quốc hội Mỹ giảm dần quân viện để áp lực TT Thiệu thi hành hiệp định ḥa b́nh.

Người viết có chung  ư nghĩ với Gs Thayer là Hoa Kỳ không thua trận ở VN, nhưng chưa có ư nghĩ sâu xa rất hữu lư như  Gs Thayer về “Cuộc chiến cách tân VN khỏi chủ nghĩa Cộng sản”. Nay nghĩ lại, nếu VNCH giành được thắng lợi trong cuộc tuyển cử dân chủ tự do theo Hiệp định Paris 1973, th́ sự tồn tại của Miền Nam tự do cũng không thể lâu dài. Một khi cộng sản c̣n thống trị ở miền Bắc, họ sẽ t́m mọi cách để thôn tính miền Nam bằng mọi giá. Mọi người chỉ  kỳ vọng với sự sụp đổ của Liên Sô, VN sẽ theo gương các nước Đông Âu từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Một chủ nghĩa đă bị cộng đồng các nước Châu Âu lên án là phi nhân tính, là thảm họa cho các dân tộc và tội ác chống nhân loại. Điều bất hạnh cho dân tộc là CSVN cực kỳ cuồng tín, nên VN cần phải có một cuộc cách mạng đổi mới triệt để.

Quyết tâm bảo vệ sự tồn tại của Đảng CS, Hà Nội chủ trương “hợp tác toàn diện” với Bắc Kinh. Hậu quả là ngày nay Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc trở thành một phần lănh thổ của Trung Quốc. Hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc huyện Tam Sa của Trung Quốc. Toàn bộ Biển Đông thuộc Trung Quốc. Sự “hợp tác toàn diện” dẫn đến sự lệ thuộc toàn diện, cuối cùng VN có nguy cơ trở thành một quận huyện của Trung Quốc như thời Bắc thuộc. Thảm họa này không phải do bọn bành trướng đại dân tộc xâm lược mà v́ sự tự nguyện của Đảng CSVN đưa đất nước vào ṿng nô lệ ngoại bang.

Hoa Kỳ đă hy sinh hơn 58 ngàn binh sĩ, tốn kém mấy trăm tỷ trong chiến tranh VN chỉ nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Sô, người dân VN được quyền tự quyết vận mạng đất nước và được hưởng tất cả những quyền tự do dân chủ. Miền Nam VN trung lập sẽ thống nhất với miền Bắc theo tinh thần hiệp định Genève 1954, cùng với các nước ASEAN h́nh thành khu vực Đông Nam Á ḥa b́nh, trung lập và phát triển. Chủ trương này được sự tán thành của Trung Quốc. Mười năm sau khi rút khỏi Đông Nam Á, tháng 4/1985 Bộ trưởng Quốc pḥng Hoa Kỳ Weinberger tuyên bố tại Hội đồng Thế giới Sự vụ Nam California “Hoa Kỳ sẽ không bao giờ tham chiến trở lại, trừ phi với một ư định quyết thắng v́ chính sách và các sự cam kết của Mỹ tại Đông Nam Á hiện và sẽ được đặt trên một sự lượng định sáng suốt về các quyền lợi quốc gia của Hoa Kỳ, các quyền lợi mà Hoa Kỳ cương quyết bảo vệ”.

Với ư định quyết thắng v́ quyền lợi của Mỹ và các cam kết tại Đông Nam Á, Hoa Kỳ đă trở lại. Ngày 24/4/2010 trong phát biểu tại Arlington, Virginia, bà Michèle Flournoy, Thứ trưởng Quốc Pḥng Hoa Kỳ phụ trách các chính sách khu vực Á châu, cho rằng “Cần xây dựng quan hệ đối tác với Việt Nam. Đây là một trọng tâm trong việc xây dựng mối quan hệ chiến lược tại khu vực Châu Á”. Theo bà “Một số thế lực ở đây đang củng cố và kiểm soát khu vực, điều này làm suy yếu h́nh ảnh về khu vực Đông Á ḥa b́nh và thịnh vượng. Do đó Hoa Kỳ cần tăng cường sự hiện diện lâu dài tại Châu Á, xây dựng các liên minh không truyền thống để răn đe và đối phó hiệu quả với các mối đe đọa”.

Hoa Kỳ trở lại Đông Á, hợp tác quốc pḥng với các nước duy tŕ sự ổn định ở biển Đông để tạo dựng Á châu/Thái B́nh Dương trở thành khu vực ḥa b́nh, thịnh vượng và phát triển nhất của thế giới trong thế kỷ 21. Để thực hiện chiến lược này, Hoa Kỳ đ̣i hỏi Trung Quốc phải duy tŕ những cam kết hồi 4 thập niên trước: VN trung lập, hai bên cam kết không can thiệp vào công việc nội bộ của VN. Trong vài ba thập niên tới, Trung Quốc vẫn chưa đủ sức để đối đầu với Mỹ, chưa kể các cường lực khác như Ấn, Nhật, Đại Hàn, Úc…đều coi biển Đông là quyền lợi chiến lược của họ. Do đó Trung Quốc vẫn tiếp tục duy tŕ những thỏa thuận với Mỹ về Việt Nam.

Việt Nam trung lập giúp Trung Quốc an tâm, họ không c̣n sợ bị VN phản bội một lần nữa. Không can thiệp vào công việc nội bộ của VN, Trung Quốc đă gián tiếp giúp TT Nguyễn Tấn Dũng thắng thế Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, giúp VN thực hiện cuộc cách mạng đổi mới thực sự. Đảng CSVN từng coi Trung Quốc và Mỹ đều là kẻ thù nguy hiểm nhất. Nay có phải hai cường lực này hợp tác với nhau để thực hiện “cuộc chiến cách tân Việt Nam khỏi chủ nghĩa cộng sản”?

Việc Trung Quốc gây khuấy động ở biển Đông làm cho Đảng CSVN ngày càng mất uy tín và giúp TT Nguyễn Tấn Dũng giành được sự tính nhiệm cao cao nhất của tập thể Ủy viên TƯ Đảng trong Hội nghị TƯ 10. Hội nghị này chuẩn bị nhân sự lănh đạo và cương lĩnh của Đảng trong Đại hội XII mà Tỉnh ủy An Giang vừa tiết lộ: Hội nghị TW 10 mới rồi khẳng định: “Đảng lấy quốc gia dân tộc làm đầu” và “dân là gốc”.

Đó sẽ là nội dung chính để Đảng ủy các cấp thảo luận và tŕnh Ban Chấp hành Trung ương, chuẩn bị cho Cương lĩnh Đại hội XII: Không c̣n tiến lên XHCN, lấy chủ thuyết Mác Lê và tư tưởng HCM làm đường hướng chỉ đạo, mà từ nay sẽ đặt lợi ích Quốc gia Dân tộc là tối thượng, xây dựng Nhà nước pháp quyền của Dân, do Dân, v́ Dân, tôn trọng quyền tư hữu của dân. Từ đó, khi Bộ Chính trị triệu tập Hội nghị TƯ để chuẩn bị Đại hội XII, Ban Chấp hành TƯ Đảng sẽ ra nghị quyết tuyên bố: Thể chế thay đổi, vai tṛ lịch sử của Đảng CSVN chấm dứt, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Người dân sẽ trực tiếp bầu người lănh đạo đất nước và Quốc hội để thảo ra Hiến pháp mới với tam quyền phân lập.  

Điều này đă được nhà báo trẻ trong nước là Nguyễn Vũ B́nh một cựu tù nhân lương tâm khẳng định trong buổi Hội luận & Vấn đáp của Đài SBTN Úc châu ngày 3/10/2014: “Sẽ không có đại hội XII, v́ năm 2016 không c̣n Đảng CSVN để tổ chức đại hội. Nếu có đại hội th́ đại hội này ở các dạng khác hẳn các đại hội trước”.

Cám ơn Nhóm Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai & Cửu Long/Úc Châu và Giáo sư Carl Thayer đă đưa ra ba chủ đề trong đề tài thảo luận Việt Nam: 40 năm nh́n lại (1975-2015) giúp người viết có cơ hội góp ư. Ba chủ đề: T́nh trạng tranh chấp biển Đông, Đảng CSVN trước Đại hội XII và Tự do, dân chủ và nhân quyền ở VN có liên hệ nhân quả xuyên suốt: từ biển Đông đưa đến Đại hội XII và kết quả là Tự do, Dân chủ, Nhân quyền sẽ xuất hiện ở Việt Nam.

Nhiều người cho rằng Nguyễn Tấn Dũng xuất thân là du kích, y tá vườn. Đúng là hạng người tầm thường gặp thời vận thuân lợi nên triệt hạ Đảng Cộng sản một cách dễ dàng. Suy cho cùng, đối với một đảng “buôn dân bán nước”, “hèn với giặc, ác với dân” th́ chỉ cần “dân chơi” rừng U Minh/Cà Mau ra tay cũng thành công. Không chớp lấy thời cơ hăn hữu này để đưa đất nước đến bờ vinh quang, trở thành anh hùng cứu nước. Trái lại, cứ chần chờ bỏ lỡ thời cơ sẽ ôm hận suốt đời, một tên tội đồ của dân tộc. “Thời lai đồ điếu thành công dị - Vận khứ anh hùng ẩm hận đa” (Đặng Dung; Cảm Hoài)

                                          

Lê Quế Lâm

Sydney 30/4/2015

Trở lại