|
Nhìn lại nền Giáo dục VNCH: Sự tiếc nuối vô bờ bến |
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Sách giáo khoa thời VNCH Giáo
dục Việt Nam Cộng Hòa là
nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt
Nam Cộng Hòa. Triết lý giáo dục của
Việt Nam Cộng hòa là Nhân
bản, Dân
tộc, và Khai
phóng. Hiến
pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh quyền
tự do giáo dục, và cho rằng “nền
giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và
miễn phí”, “nền giáo dục đại học
được tự trị”, và “những
người có khả năng mà không có phương
tiện sẽ được nâng đỡ để
theo đuổi học vấn”. Hệ
thống giáo dục Việt Nam Cộng Hòa gồm
tiểu học, trung học, và đại học, cùng
với một mạng lưới các cơ sở giáo
dục công lập, dân lập, và tư thục ở
cả ba bậc học và hệ thống tổ
chức quản trị từ trung ương cho
tới địa phương. Phòng
thí nghiệm ở Viện Pasteur Sài Gòn (Internet) Tổng
quan
Từ
năm 1917, chính
quyền thuộc địa Pháp ở Việt
Nam đã có một hệ thống giáo dục
thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc, và
cả Lào cùng Campuchia. Hệ thống giáo dục
thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung
học, và đại học. Chương trình học
là chương trình của Pháp, với một chút
sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ
sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng Pháp làm
ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngôn
ngữ phụ. Sau khi Việt Nam tuyên bố độc
lập vào năm 1945, chương trình học của
Việt Nam – còn gọi là chương trình Hoàng
Xuân Hãn (ban hành thời chính phủ Trần
Trọng Kim – được đem ra áp dụng
ở miền Trung và miền Bắc. Riêng
ở miền Nam,
vì có sự trở lại của người Pháp nên
chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho
đến giữa thập niên 1950. Đến thời
Đệ Nhất Cộng Hòa thì chương trình
Việt mới được áp dụng ở
miền Nam để thay thế cho chương trình Pháp.
Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo
dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò
lãnh đạo thực sự của mình. Một
buổi lễ khánh thành tượng Petrus
Ký trong khuôn viên ( công viên 30/4 hiện tại ),
nằm trên đường Boulevard Norodom – ( Đại
Lộ Thống Nhất trước Dinh Độc
Lập, hướng về Nhà Thờ Đức Bà ). Ngay
từ những ngày đầu hình thành nền Đệ
Nhất Cộng Hòa, những người làm công tác
giáo dục ở miền Nam đã xây dựng
được nền móng quan trọng cho nền giáo
dục quốc gia, tìm ra câu trả lời cho những
vấn đề giáo dục cốt yếu. Những
vấn đề đó là: triết lý giáo dục,
mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài
liệu giáo khoa và phương tiện học tập,
vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và
trang thiết bị trường học, đánh giá
kết quả học tập, và tổ chức
quản trị. Nhìn
chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở
Miền Nam Việt Nam trong những năm 1970 có khuynh hướng
xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú
trọng đào tạo một số ít phần tử
ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên
về lý thuyết, để chấp nhận mô hình
giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và
thực tiễn. Năm
học 1973-1974, Việt Nam Cộng Hòa có một
phần năm (20%) dân số là học sinh và sinh viên
đang đi học trong các cơ sở giáo dục.
Con số này bao gồm3.101.560
học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh Trung
học, và 101.454 sinh viên Đại học; số
người biết đọc biết viết ước
tính khoảng 70% dân số. Đến năm 1975,
tổng số sinh viên trong các viện đại
học ở miền Nam là khoảng 150.000
người(không tính các sinh viên theo học ở Học
viện Hành Chính Quốc Gia và ở các trường
đại học cộng đồng). Cảnh
giờ rước học sinh tan trường. Mặc
dù tồn tại chỉ trong 20
năm (từ 1955 đến 1975), bị ảnh
hưởng nặng nề bởi chiến tranh và
những bất ổn chính trị thường
xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần
lớn ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng
và nội vụ ( trên
40% ngân sách quốc gia dành cho quốc phòng, khoảng
13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7-7,5% cho giáo
dục), nền
Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã phát triển
vượt bậc, đáp ứng được nhu
cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào
tạo được một lớp người có
học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp
vào việc xây dựng quốc gia và tạo được
sự nghiệp vững chắc ngay cả ở các
quốc gia phát triển. Kết
quả này có được là nhờ các nhà giáo có
ý thức rõ ràng về sứ
mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và lương
tâm nghề nghiệp, đã sống cuộc sống
khiêm nhường để đóng góp trọn
vẹn cho nghề nghiệp, nhờ nhiều bậc
phụ huynh đã đóng góp công sức cho việc xây
dựng nền giáo dục quốc gia, và nhờ
những nhà lãnh đạo giáo dục đã có
những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực
mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục
ở Miền Nam Việt Nam. Thầy
cô giáo ( Giáo sư ) thời VNCH Triết
lý giáo dục
Năm
1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ
Quốc gia Giáo dục Trần
Hựu Thế, Việt Nam Cộng Hòa nhóm họp
Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I)
tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ
nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ,
học giả, đại diện của quân đội,
chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại
diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp
từ tiểu học đến đại học,
từ phổ thông đến kỹ thuật… Ba nguyên
tắc “nhân
bản” (humanistic),
“dân tộc”
(nationalistic),
và “khai phóng ( liberalic) ”
được chính thức hóa ở hội nghị này. Đây
là những nguyên tắc làm nền tảng cho
triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa,
được ghi cụ thể trong tài liệu Những
nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc
gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến
Pháp Việt Nam Cộng Hòa (1967). Khóa
Hội Thảo Cải Tổ Chương Trình Sư
Phạm. 1. Giáo
dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục nhân
bản. Triết
lý nhân bản chủ trương con người có
địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy
con người làm gốc, lấy
cuộc sống của con người trong cuộc
đời này làm căn bản; xem con người như
một cứu cánh chứ không phải như một
phương tiện hay công cụ phục vụ cho
mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái,
hay tổ chức nào khác. Triết
lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt
giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận
việc sử dụng sự khác biệt đó để
đánh giá conngười, và không chấp nhận
sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa
phương, tôn giáo, chủng tộc… Với
triết lý nhân bản, mọi
người có giá trị như nhau và đều có
quyền được hưởng những cơ
hội đồng đều về giáo dục. 2. Giáo
dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục dân
tộc. Giáo
dục tôn trọng giá trị truyền thống
của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ
tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo
dục phải bảo tồn và phát huy được
những tinh hoa hay những truyền thống tốt
đẹp của văn hóa dân tộc. Dân
tộc tính trong văn hóa cần phải được
các thế hệ biết đến,
bảo tồn và phát huy, để không bị mất
đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác. Sinh
viên đại học Dược Khoa Sài Gòn gói bánh
chưng để đem giúp đồng bào miền
Trung bị bão lụt năm Thìn 1964. 3. Giáo
dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục khai phóng. Tinh
thần dân tộc không nhất thiết phải
bảo thủ, không nhất thiết phải đóng
cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở
rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa
học kỹ thuật tân tiến trên thế giới,
tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã
hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp
phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và
xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp
cận với văn minh thế giới. Từ
những nguyên tắc căn bản ở trên, chính
quyền Việt Nam Cộng Hòa đề ra những
mục tiêu chính sau đây cho nền giáo dục
của mình. Những mục tiêu này được
đề ra là để nhằm trả lời cho câu
hỏi: Sau khi nhận được sự giáo
dục, những người đi học sẽ
trở nên người như thế nào đối
với cá nhân mình, đối với gia đình,
quốc gia, xã hội, và nhân loại. Mục
tiêu giáo dục thời VNCH:
Bích
chương của Sở Giáo Dục – Bộ Y
Tế VNCH 1. Phát
triển toàn diện mỗi cá nhân. Trong
tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của
cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc
phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính
tự nhiên của mỗi người và theo những
quy luật phát triển tự nhiên cả về
thể chất lẫn tâm lý. Nhân
cách và khả năng riêng của học sinh được
lưu ý đúng mức. Cung cấp cho học sinh đầy
đủ thông tin và dữ kiện để học
sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông
tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn
lọc thiếu trung thực theo một chủ trương,
hướng đi định sẵn nào. Thanh
nữ Việt Nam Cộng Hòa 2. Phát
triển tinh thần quốc gia ở mỗi học
sinh. Điều
này thực hiện bằng cách: giúp học sinh
hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường
sống, và lối sống của người dân; giúp
học sinh hiểu biết lịch sử nước
nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh
thần đoàn kết, tranh đấu của người
dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ
tổ quốc;
giúp học sinh học tiếng Việt và sử
dụng tiếng Việt một cách có hiệu
quả; giúp
học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương
xứ sở, những tài nguyên phong phú của
quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống
của dân tộc;
giúp học sinh bảo tồn những truyền
thống tốt đẹp, những phong tục giá
trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh
thần tự tin, tự lực, và tự lập. Người
dân miền Nam biểu tình phản đối Trung
Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, năm 1974. 3. Phát
triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa
học. Điều
này thực hiện bằng cách: giúp
học sinh tổ chức những nhóm làm việc
độc lập qua đó phát triển tinh thần
cộng đồng và ý thức tập thể;
giúp học sinh phát triển óc phán đoán với tinh
thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp
phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học;
giúp học sinh có khả năng tiếp nhận
những giá
trị văn hóa của nhân loại. Mặt
tiền của Viện Đại Học Sài Gòn
(Số 3 Công Trường Giáo
dục tiểu học:
Một
lớp tiểu học ở miền Nam vào năm 1961. Bậc
tiểu học thời Việt Nam Cộng hòa bao
gồm năm lớp, từ lớp 1 đến
lớp 5 (thời
Đệ Nhất Cộng Hòa gọi là lớp
Năm đến lớp Nhất).
Theo quy định của hiến pháp, giáo dục
tiểu học là giáo dục phổ cập (bắt
buộc). Từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa
đã có luật quy định trẻ em phải đi
học ít nhất ba năm tiểu học. Mỗi năm
học sinh phải thi để lên lớp. Ai thi trượt
phải học “đúp”, tức học lại
lớp đó.Các
trường công lập đều hoàn toàn miễn phí,
không thu học phí và các khoản lệ phí khác.
Học
sinh tiểu học chỉ học một buổi, sáu
ngày mỗi tuần. Theo
quy định, một ngày được chia ra 2 ca
học; ca học buổi sáng và ca học buổi
chiều. Vào
đầu thập niên 1970, Việt Nam Cộng Hòa có 2,5 triệu
học sinh tiểu học, chiếm hơn 80% tổng
số thiếu niên từ 6 đến 11 tuổi; 5.208 trường
tiểu học (chưa kể các cơ sở ở Phú
Bổn, Vĩnh Long và Sa Đéc). Học
sinh lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa – (
Lớp Bốn lớp Năm bây giờ ). Tất
cả trẻ em từ 6 tuổi đều được
nhận vào lớp Một để bắt đầu
bậc tiểu học. Phụ huynh có thể chọn
lựa cho con em vào học miễn phí cho hết
bậc tiểu học trong các trường công
lập hay tốn học phí (tùy trường) tại
các trường tiểu học tư thục. Lớp
1 (trước
năm 1967 gọi là lớp Năm) cấp tiểu
học mỗi tuần học 25 giờ, trong đó 9,5
giờ môn Quốc
văn; 2 giờ Bổn
phận công dân và Đức
dục (còn gọi là lớp Công dân giáo
dục). Lớp 2 (trước
năm 1967 gọi là lớp Tư), Quốc văn
giảm còn 8 tiếng nhưng thêm 2 giờ Sử ký và
Địa lý. Lớp 3 trở lên thì ba môn Quốc văn,
Công dân và Sử Địa chiếm 12-13 tiếng
mỗi tuần. Giờ
sinh hoạt của toàn trường thời bấy
giờ. Một
năm học kéo dài chín tháng, nghỉ ba tháng hè. Trong
năm học có khoảng 10 ngày nghỉ lễ (thông
thường vào những ngày áp Tết). Thẻ
căn cước học sinh trường Võ Trường
Toản Giáo
dục trung học:
Các
vị Giáo Sư trường Hồ Ngọc Cẩn Tính
đến đầu những năm 1970,
Việt Nam Cộng Hòa có hơn 550.000 học sinh trung
học, tức hơn 20% tổng số thanh thiếu niên
ở lứa tuổi từ 12 đến 18; có 534 trường
trung học (chưa kể các cơ sở ở Vĩnh
Long và Sa Đéc). Đến
năm 1975 thì
có khoảng 900.000 học sinh ở các trường
trung học công lập. Các trường trung học công
lập nổi tiếng thời đó có Petrus
Ký, Chu Văn An, Võ
Trường Toản, Trưng Vương, Gia
Long, Lê Quý Đôn (Sài Gòn) tiền thân là trường
Chasseloup Laubat, Quốc
Học (Huế), trường Trung học Phan Chu
Trinh (Đà Nẵng),Nguyễn
Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản
(Cần Thơ)… Các
trường công lập đều hoàn toàn miễn phí,
không thu học phí và các khoản lệ phí khác.
Một
lớp thử nghiệm hoá chất tại trường
Petrus Ký Trung
học đệ nhất cấp: Trường
Trung học Cộng đồng Quận 8 năm 72- 73 Trung
học đệ nhất cấp bao gồm từ lớp
6 đến lớp 9 (trước
năm 1971 gọi là lớp đệ thất đến
đệ tứ), tương đương trung
học cơ sở hiện nay. Từ tiểu
học phải thi vào trung học đệ nhất
cấp. Đậu
vào trường trung học công lập không dễ.
Các trường trung học công lập hàng năm
đều tổ chức tuyển sinh vào lớp Đệ
thất (từ năm 1971 gọi là lớp 6), kỳ
thi có tính chọn lọc khá cao (tỷ số chung toàn
quốc vào trường công khoảng 62%); tại
một số trường danh tiếng tỷ lệ trúng
tuyển thấp hơn 10%. Những
học sinh không vào được trường công thì
có thể nhập học trường tư thục nhưng
phải trả học phí. Một năm học
được chia thành hai “lục
cá nguyệt” (hay “học kỳ”). Kể từ
lớp 6, học sinh bắt đầu phải học
ngoại ngữ, thường là tiếng Anh hay
tiếng Pháp, môn Công dân giáo dục tiếp tục
với lượng 2 giờ mỗi tuần. Từ
năm 1966 trở đi, môn võ Vovinam (tức Việt
Võ đạo) cũng được đưa vào
giảng dạy ở một số trường. Học
xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung
học đệ nhất cấp. Kỳ thi này
thoạt tiên có hai phần: viết và vấn đáp. Năm
1959 bỏ phần vấn đáp rồi đến niên
học 1966-67 thì Bộ Quốc gia Giáo dục bãi
bỏ hẳn kỳ thi Trung học đệ nhất
cấp. Sân
trường Marie Curie Trung
học đệ nhị cấp: Nam
sinh Võ Trường Toản Trung
học đệ nhị cấp là các lớp 10,
11 và 12, trước 1971 gọi là đệ
tam, đệ nhị và đệ nhất; tương
đương trung học phổ thông hiện nay.
Muốn vào thì phải đậu được
bằng Trung học đệ nhất cấp, tức
bằng Trung học cơ sở. Vào
đệ nhị cấp, học sinh phải chọn
học theo một trong bốn ban như dự bị vào
đại học. Bốn ban thường gọi A, B,
C, D theo thứ tự là Khoa học thực nghiệm
hay còn gọi là ban Vạn vật; ban Toán; ban Văn chương
và ban Văn chương Cổ ngữ – thường
là Hán văn. Ngoài ra học sinh cũng bắt đầu
học thêm một ngoại ngữ thứ hai. Vào
năm lớp 11 thì học sinh phải thi Tú
tài I rồi thi Tú
tài II năm lớp 12. Thể lệ này đến
năm học 1972-1973 thì bỏ, chỉ thi một đợt
tú tài phổ thông. Thí sinh phải thi tất cả các
môn học được giảng dạy (trừ môn
Thể dục), đề thi gồm các nội dung
đã học, không có giới hạn hoặc bỏ
bớt. Hình thức thi kể từ năm 1974 cũng
bỏ lối viết bài luận (essay)
mà theo lối thi trắc nghiệm có tính cách khách quan
hơn.
Mỗi
năm có hai đợt thi Tú tài tổ chức vào
khoảng tháng 6 và tháng 8. Tỷ
lệ đậu Tú tài I (15-30%) và Tú tài II (30-45%),
tại các trường công lập nhìn chung tỷ
lệ đậu cao hơn trường tư thục
do phần lớn học sinh đã được sàng
lọc qua kỳ thi vào lớp 6 rồi. Do tỷ
lệ đậu kỳ thi Tú tài khá thấp nên vào
được đại học là một chuyện
khó. Thí sinh đậu được xếp thành:
Hạng “tối
ưu”
hay “ưu
ban khen”
(18/20 điểm trở lên). Thí sinh đậu Tú tài
II hạng
tối ưuthường hiếm. Mỗi năm toàn
Việt Nam Cộng Hòa chỉ một vài thí sinh đậu
hạng này, có năm không có. Kế tiếp là
hạng “ưu”
(16/20 điểm trở lên); “bình”(14/20); “bình
thứ” (12/20), và “thứ” (10/20) Thầy
trò trường nữ Gia Long Một
số trường trung học chia theo phái tính như
ở Sài Gòn thì
có trường Pétrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường
Toản, Trường Hồ Ngọc Cẩn (Gia Định)
và các trường Quốc học (Huế), Phan Chu
Trinh (Đà Nẵng), Võ Tánh (Nha Trang), Trần Hưng
Đạo (Đà Lạt), Nguyễn Đình Chiểu
(Mỹ Tho) dành cho nam
sinh; và các trường Trưng Vương, Gia
Long, Lê Văn Duyệt, Trường Nữ Trung học
Đồng Khánh (Huế), Trường Nữ Trung
học Bùi Thị Xuân (Đà Lạt), Trường
Nữ Trung học Lê Ngọc Hân (Mỹ Tho), Trường
Nữ Trung học Đoàn Thị Điểm (Cần
Thơ) chỉ dành cho nữ
sinh. Học
sinh trung học lúc bấy giờ phải mặc đồng
phục: nữ
sinh thì áo dài trắng, quần trắng hay đen; còn
nam sinh thì mặc áo sơ mi trắng, quần màu xanh dương. Nữ
sinh Lê Văn Duyệt Trung
học tổng hợp: Chương
trình giáo dục trung học tổng hợp (tiếng
Anh: comprehensive
high school) là một chương trình giáo dục
thực tiễn phát sinh từ quan niệm giáo dục
của triết gia John Dewey,sau này được nhà giáo
dục người Mỹ là James B. Connant hệ
thống hóa và đem áp dụng cho các trường
trung học Hoa Kỳ Giáo dục trung học tổng
hợp chú trọng đến khía cạnh thực
tiễn và hướng nghiệp, đặt nặng vào
các môn tư vấn, kinh tế gia đình, kinh doanh, công-kỹ
nghệ, v.v… nhằm trang bị cho học sinh
những kiến thức thực tiễn, giúp họ có
thể mưu sinh sau khi rời trường trung
học. Ở từng địa phương, phụ
huynh học sinh và các nhà giáo có thể đề
nghị những môn học đặc thù khả dĩ
có thể đem ra ứng dụng ở nơi mình sinh
sống. Thời
Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa chính phủ
cho thử nghiệm chương trình trung học
tổng hợp, nhập đệ nhất và đệ
nhị cấp lại với nhau. Học trình này
được áp dụng đầu tiên tại Trường Trung
học Kiểu mẫu Thủ Đức (khai
giảng niên khóa đầu tiên vào tháng 10 năm 1965) ,
sau đó mở rộng cho một số trường
như Nguyễn An Ninh (cho nam sinh; 93 đường
Trần Nhân Tông, Quận 10) và Sương Nguyệt Ánh
(cho nữ sinh; góc đường Bà Hạt và Vĩnh
Viễn, gần chùa Ấn Quang) ở Sài
Gòn,
và Chưởng Binh Lễ ở Long
Xuyên. Nhạc
sĩ Nguyễn Đức Quang (cầm
đàn) trong một buổi sinh hoạt của nhóm Du
Ca với các học sinh trường Trung Học
Kiểu Mẫu Thủ Đức vào cuối thập
niên 1960 Bổ
sung ( theo góp ý của độc giả Nguyễn ): Ở
Huế: Ngày
4-8-1964 trường Đại Học Sư Phạm
Huế đã thành lập một trường Ở
Cần Thơ: Năm 1966, Trung
học Kiểu mẫu Cần Thơ được
thành lập thuộc Phân khoa Sư phạm của
Viện Đại học Cần Thơ. Cổng
trường Trung Học Kiểu Mẫu Huế 1964-1975 Trung
học kỹ thuật: Trường
Quốc-Gia Nông-Lâm-Mục B’Lao Các
trường trung học kỹ thuật nằm trong
hệ thống giáo dục kỹ thuật, kết
hợp việc dạy nghề với giáo dục
phổ thông. Các học sinh trúng tuyển vào trung
học kỹ thuật thường được
cấp học bổng toàn phần hay bán phần.
Mỗi tuần học 42 giờ; hai môn ngoại
ngữ bắt buộc là tiếng Anh và tiếng Pháp. Các
trường trung học kỹ thuật có mặt
hầu hết ở các tỉnh, thành phố; ví
dụ, công lập thì có Trường Trung học
Kỹ thuật Cao Thắng (thành lập năm 1956;
tiền thân là Trường Cơ khí Á châu thành
lập năm 1906 ở Sài Gòn; nay là Trường Cao
Đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng), Trường
Trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc, Trường
Trung học Kỹ thuật Nguyễn Trường
Tộ; tư thục thì có Trường Trung
học Kỹ thuật Don Bosco (do các tu sĩ Dòng Don
Bosco thành
lập năm 1956 ở Gia Định; nay là Trường
Đại Học Công Nghiệp TPHCM). Hiệu
trưởng Cao Thanh Đảnh và các Giáo Sư trường
trung học kỹ thuật Cao Thắng. Các
trường tư thục và Quốc Gia Nghĩa
Tử
Các
trường tư thục và Bồ đề: Lễ
kỷ niệm 100 năm thành lập của trường
Lasan Taberd 17 tháng 2 năm 1974 Ngoài
hệ thống trường công lập của chính
phủ là hệ thống trường tư thục. Vào
năm 1964 các trường tư thục giáo dục
28% trẻ em tiểu học và 62% học sinh trung
học. Đến niên học 1970-1971 thì trường
tư thục đảm nhiệm 17,7% học sinh
tiểu học và 77,6% học sinh trung học. Con
số này tính đến năm 1975, Việt Nam
Cộng Hòa có khoảng 1,2
triệu học sinhghi danh học ở hơn 1.000
trường tư thục ở cả hai cấp
tiểu học và trung học. Các trường tư
thục nổi tiếng như Lasan Taberd dành cho nam sinh;
Couvent des Oiseaux, Regina Pacis (Nữ vương Hòa bình), và
Regina Mundi (Nữ vương Thế giới) dành cho
nữ sinh. Bốn trường này nằm dưới
sự điều hành của Giáo Hội Công Giáo. Sân
trường Bác ái (Collège Fraternité) Trường
Bác ái (Collège
Fraternité) ở Chợ Quán với đa số học
sinh là người
Việt gốc Hoa cũng
là một tư thục có tiếng do các thương
hội người Hoa bảo trợ. Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất có
hệ thống các trường tiểu học và trung
học Bồ Đề ở nhiều tỉnh thành, tính
đến năm 1970 trên toàn quốc có 137 trường
Bồ đề, trong đó có 65 trường trung
học với tổng số học sinh là 58.466. Ngoài
ra còn có một số trường do chính
phủ Pháp tài trợ như Marie Curie,
Colette, và Saint-Exupéry. Kể từ năm 1956, tất
cả các trường học tại Việt Nam,
bất kể trường tư hay trường do
ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy
một số giờ nhất định cho các môn
quốc văn và lịch sử Việt Nam. Chương
trình học chính trong các trường tư vẫn
theo chương trình mà Bộ Quốc gia Giáo dục
đã đề ra, dù có thể thêm một số
giờ hoặc môn kiến thức thêm. Sau
năm 1975,
dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam tổng
cộng có 1.087 trường tư thục ở
miền Nam Việt Nam bị giải thể và
trở thành trường công (hầu hết mang tên
mới). Le
Collège Fraternité – Bac Ai datant de 1908, se situe 4 – rue Nguyên
Trai, Cho Quan. Các
trường Quốc Gia Nghĩa Tử: Saigon
17 March 1971 – Bà Nguyễn Văn Thiệu dự lễ
khánh thành Thư viện trường Quốc Gia Nghĩa
Tử. Ngoài
hệ thống các trường công lập và tư
thục kể trên, Việt Nam Cộng Hòa còn có
hệ thống thứ ba là các trường Quốc
gia nghĩa tử. Tuy đây là trường công
lập nhưng không đón nhận học sinh bình thường
mà chỉ dành riêng cho các con em của tử sĩ
hoặc thương phế binh của Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa như là một
đặc ân của chính phủ giúp đỡ không
chỉ phương tiện học hành mà cả
việc nuôi dưỡng. Hệ
thống này bắt đầu hoạt động
từ năm 1963 ở Sài Gòn, sau khai triển thêm
ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, và Biên Hòa.
Tổng cộng có 7 cơ sở với hơn 10.000
học sinh. Loại trường này do Bộ Cựu
Chiến binh quản lý chứ không phải Bộ
Quốc gia Giáo dục, nhưng vẫn dùng giáo trình
của Bộ Quốc gia Giáo dục. Chủ
đích của các trường Quốc gia nghĩa
tử là giáo dục phổ thông và hướng
nghiệp cho các học sinh chứ không được
huấn luyện quân sự. Vì vậy trường
Quốc gia nghĩa tử khác trường Thiếu
sinh quân.
Sau năm 1975, các trường quốc gia nghĩa
tử cũng bị giải thể. Giáo
dục đại học: Học
sinh đậu được Tú tài II thì có thể
ghi danh vào học ở một trong các viện Đại
Học, trường Đại Học, và học
viện trong nước. Tuy nhiên vì số chỗ trong
một số trường rất có giới hạn nên
học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có
tính chọn lọc rất cao; các trường này thường
là Y, Dược, Nha, Kỹ Thuật, Quốc gia hành
chánh và Sư Phạm. Việc
tuyển chọn dựa trên khả năng của thí
sinh, hoàn toàn không xét đến lý lịch gia đình. Sinh
viên học trong các cơ sở giáo dục công
lập thì không phải đóng tiền. Chỉ ở
một vài trường hay phân khoa đại học
thì sinh viên mới đóng lệ phí thi vào cuối năm
học. Ngoài ra, chính phủ còn có những chương
trình học bổng cho sinh viên. Trong
khuôn viên Học viện Quốc gia Hành chánh
Chương
trình học trong các cơ sở giáo dục đại
học được chia làm ba cấp. Cấp 1
(học 4 năm): Nếu theo hướng các ngành nhân
văn, khoa học, v.v.. thì lấy bằng
Cử nhân (ví
dụ: cử nhân Triết, cử nhân Toán…); nếu
theo hướng các ngành chuyên nghiệp thì lấy bằng
Tốt nghiệp (ví
dụ: bằng tốt nghiệp Trường Đại
học Sư phạm, bằng tốt nghiệp Học
viện Quốc gia Hành chánh…) hay bằng
Kỹ sư (ví
dụ: kỹ sư Điện, kỹ sư Canh nông…).
Cấp 2: học thêm 1-2 năm và thi lấy bằng
Cao học hayTiến
sĩ đệ tam cấp (tiếng
Pháp: docteurde
troisième cycle; tương đương Thạc
sĩngày
nay). Cấp 3: học thêm 2-3 năm và làm luận án thì
lấy bằng Tiến
sĩ (tương
đương với bằng Ph.D. của Hoa Kỳ). Riêng
ngành y, vì phải có thời gian thực tập ở
bệnh viện nên sau khi học xong chương trình
dự bị y khoa phải học thêm 6
năm hay lâu hơn mới xong chương
trình đại học. Bổ
sung của đọc giả Trần Thạnh
(26.12.2013):
VNCH
có nhiều trí thức tốt nghiệp từ Pháp và
Hoa Kỳ nên có hai hệ thống bằng cấp khác
nhau: Thạc
Sĩ người Việt đầu tiên là
ông Phạm
Duy Khiêm, bào huynh của nhạc sĩ Phạm
Duy. Theo
hệ thống của Pháp (ngày trước): –
Cử Nhân (Licencié), Cao
học (DEA), Tiến
Sĩ Đệ Tam Cấp (Doctorat de 3è cycle), Tiến
Sĩ Quốc Gia (Doctorat d’État). Theo
hệ thống của Hoa Kỳ: –
Cử Nhân (Bachelor), Master (trước
1975 chưa có từ ngữ dịch chính xác bằng
cấp này), Tiến
Sĩ (PhD). Khó
có thể so sánh Master và Tiến
Sĩ Đệ Tam Cấp vì học trình hai bên
khác nhau. ( Hiện nay trong nước dịch
Master là Thạc Sĩ gây hiểu lầm cho nhiều người
). Từ
“ Thạc
Sĩ ” trước đây được dùng
để chỉ những người thi đậu
một kỳ thi rất khó của Pháp (agrégation). Người
thi đậu được gọi là Agrégé. Không
có từ tiếng Anh tương đương cho
từ này. Đại
học Luật khoa Sài Gòn Mô
hình các cơ sở giáo dục đại học:
Phần
lớn các cơ sở giáo dục đại học
Việt Nam thời Việt Nam Cộng Hòa được
tổ chức theo mô
hình Viện
đại học (theo
Việt-Nam Tự-Điển của Hội khai trí
Đức Tiến:Viện =
Nơi, sở). Đây
là mô
hình tương tự như university của
Hoa Kỳ và Tây Âu, cùng với nó là hệ thống
đào tạo theo tín
chỉ (tiếng Anh: credit).
Mỗi viện đại học bao gồm nhiều Phân
khoa đại học (tiếng
Anh: faculty;
thường gọi tắt là phân
khoa, ví dụ: Phân khoa Y, Phân khoa Sư phạm, Phân
khoa Khoa học, v.v…) hoặc Trường hay Trường
Đại học(tiếng Anh: school hay college;
ví dụ: Trường Đại học Nông
nghiệp, Trường Đại học Kỹ
thuật, v.v…). Trong
mỗi Phân khoa Đại học hay Trường Đại
học có các ngành (ví
dụ: ngành Điện tử, ngành Công chánh, v.v…);
về mặt tổ chức, mỗi ngành tương
ứng với một ban(tiếng
Anh: department;
tương đương với đơn vị khoa hiện
nay). Trường
Đại học Giáo dục: Tiền thân là Trung tâm
Huấn luyện Sư phạm Kỹ thuật Về
mặt tổ chức, viện đại học
của Việt Nam Cộng Hòa duy trì đường
lối phi chính trị của các đại học Tây
Phương. Các khoa trưởng của các trường
phân khoa không do Bộ Quốc gia Giáo dục bổ
nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng
Khoa bầu lên. Trong
hai thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị Hòa Bình
đang diễn ra ở Paris, chính phủ Việt Nam
Cộng Hòa ráo riết lên kế hoạch tái thiết
sau chiến tranh, với viễn cảnh là hòa bình
sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính
phủ liên hiệp sẽ được thành lập,
người lính từ các bên trở về cần
được đào tạo để tái hòa
nhập vào xã hội. Trong khuôn khổ kế hoạch
đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại
học mới và mang tính thực tiễn được
hình thành, đó là trường
đại học cộng đồng và viện
đại học bách khoa. Trường
đại học cộng đồng là một cơ
sở giáo dục đại học sơ cấp và
đa ngành; sinh viên học ở đây để
chuyển tiếp lên học ở các viện đại
học lớn, hoặc mở mang kiến thức,
hoặc học nghề để ra làm việc. Các
trường đại học cộng đồng
được thành lập với sự tham gia đóng
góp, xây dựng, và quản trị của địa
phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát
triển ở địa phương trong các mặt văn
hóa, xã hội, và kinh tế. Khởi điểm
của mô hình giáo dục này là một nghiên cứu
của ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969
mà các kết quả sau đó được
đưa vào một luận án tiến sĩ trình
ở Viện Đại học Southern California vào năm
1970 với tựa đề The
Community College Concept: A Study of its Relevance to Postwar
Reconstruction in Vietnam (Khái niệm trường
đại học cộng đồng:Nghiên cứu
sự phù hợp của nó với công cuộc tái
thiết hậu chiến ở Việt Nam). Cơ
sở đầu tiên được hình thành là Trường
Đại học Cộng đồng Tiền Giang, thành
lập vào năm 1971 ở Định Tường sau
khi mô hình giáo dục mới này được mang
đi trình bày sâu rộng trong dân chúng. Trường
Đại học Giáo dục: Tiền thân là Trung tâm
Huấn luyện Sư phạm Kỹ thuật Vào
năm 1973, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ
Đức (tên tiếng Anh: Thủ
Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ
Đức Poly) được thành lập. Đây
là một cơ sở giáo dục đại học
đa ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến
các ngành thực tiễn. Trong thời gian đầu,
Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có
các trường đại học chuyên về Nông
Nghiệp, Kỹ Thuật, Giáo Dục, Khoa Học và Nhân
Văn, Kinh tế và Quản trị, và Thiết kế
đô thị; ngoài ra còn có trường đào
tạo sau đại học. Theo
kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều
được gom chung lại trong một khuôn viên
rộng lớn, tạo một môi trường gợi
hứng cho trí thức suy luận, với một
cảnh trí được thiết kế nhằm nâng
cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung
để tăng hiệu năng và giảm chi phí. Trường
Sư phạm, thuộc Viện ĐH Sài gòn Sau
năm 1975,
dưới chính thể Cộng Hoà xã hội Chủ
Nghĩa Việt Nam, toàn bộ các cơ sở giáo
dục đại học thời Việt Nam Cộng hòa
bị đổi tên và bị phân tán theo khuôn mẫu
giáo dục của Liên Xô nên không còn mô hình theo đó
các trường hay phân khoa đại học cấu
thành viện đại học, mà mỗi trường
trở nên biệt lập. Giáo
dục đại học Việt Nam dưới các chính
thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình phân tán
ngành học. Các “trường
đại học bách khoa” được thành
lập dưới hai chính thể này ( Trường
Đại Học Bách Khoa Hà Nội, Trường
Đại học Bách Khoa TPHCM, và Trường Đại
Học Bách Khoa Đà Nẵng) không giống như mô
hình viện
đại học bách khoa vì chỉ tập
trung vào các ngành kỹ thuật tương tự, mô
hình “trường đại học tổng
hợp” (Trường Đại Học Tổng
Hợp Hà Nội, Trường Đại Học
Tổng Hợp TPHCM và Trường Đại Học
Tổng Hợp Huế) cũng chỉ tập trung vào các ngành
khoa học cơ bản, chứ không mang tính
chất toàn diện. Đến
đầu thập niên 1990, chính phủ Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập 2
“đại học” cấp quốc gia và 3 “đại
học” cấp vùng theo mô hình gần giống như
mô hình viện
đại học. Vào tháng 10 năm 2009, một
số đại biểu của Quốc Hội nước
CHXHCN Việt Nam đưa ra đề nghị gọi
tên các “đại học” cấp quốc gia và
cấp vùng là “viện đại học”. Các
viện đại học công lập:
Viện
Đại Học Sài Gòn:
Tiền thân là Viện Đại Học Đông Dương
(1906), rồi Viện Đại Học Quốc Gia
Việt Nam (1955)– còn có tên là Viện Đại
học Quốc gia Sài Gòn. Năm 1957, Viện Đại
học Quốc Gia Việt Nam đổi tên thành
Viện Đại học Sài Gòn. Đây là viện
đại học lớn nhất nước. Trước
năm 1964, tiếng Việt lẫn tiếng Pháp
được dùng để giảng dạy ở
bậc đại học, nhưng sau đó thì chỉ
dùng tiếng Việt mà thôi theo chính sách ngôn ngữ
theo đuổi từ năm 1955. Riêng Trường
Đại Học Y Khoa dùng cả tiếng Anh. Vào
thời điểm năm 1970, hơn 70% sinh viên đại
học trên toàn quốc ghi danh học ở Viện
Đại học Sài Gòn. Viện
Đại Học Huế: Thành
lập vào tháng 3 năm 1957 với 5 phân khoa đại
học: Khoa học, Luật, Sư phạm, Văn khoa,
và Y khoa. Hàng
đầu bên trái ông Nguyễn Đăng Trình Bộ
trưởng Bộ QG Giáo dục, Viện trưởng
Viện Đại học Huế đầu tiên ( tháng
3/1957-7/1957 ). Giữa Tổng thống VNCH Ngô Đình
Diệm , bên phải Linh mục Giáo sư Cao Văn
Luận Viện trưởng Viện Đại
học Huế từ 7/1957-1965. Viện
Đại Học Cần Thơ:
Thành lập năm 1966 với 4 phân khoa đại
học: Khoa học, Luật khoa & Khoa học Xã
hội, Sư phạm, và Văn khoa. Viện
Đại Học Bách Khoa Thủ Đức:
Thành lập năm 1974. Tiền thân là Trung tâm Quốc
gia Kỹ thuật (1957), Học viện Quốc gia
Kỹ thuật (1972). Các
viện đại học tư thục:
Viện
Đại Học Đà Lạt:
Thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1957. Một phần cơ
sở của Viện Đại học Đà Lạt
nguyên là một chủng viện của Giáo hội Công
Giáo. Viện đại học này có 4 phân khoa đại
học: Chính trị Kinh doanh, Khoa học, Sư
phạm, Thần học và Văn khoa. Theo ước tính,
từ năm 1957
đến 1975
viện đại học này đã giáo dục26.551
người. Viện
Đại học Đà lạt Viện
Đại Học Vạn Hạnh:
Thuộc khối Ấn Quang của Giáo hội phật
giáo hội Việt Nam Thống Nhất; thành lập ngày
17 tháng 10 năm 1964 ở số 222 đường Trương
Minh Giảng (sau 1975 là đường Lê Văn
Sỹ), Quận 3, Sài Gòn-Gia Định với 5 phân
khoa đại học: Giáo dục, Phật Học, Khoa
Học Xã hội, Khoa học ứng dụng, và Văn
học & Khoa học nhân văn. Vào đầu
thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn 3.000 sinh viên. Lễ
phát bằng Cử Nhân của Viện Đại
Học Vạn Hạnh, 1973 Viện
Đại Học Phương Nam:
Được cấp giấy phép năm 1967 tọa
lạc ở số 16 đường Trần Quốc
Toản (sau năm 1975 là đường 3/2 ), quận
10, Sài Gòn. Viện đại học này thuộc
khối Việt Nam Quốc Tự của Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo sư Lê
Kim Ngân làm viện trưởng. Viện
Đại học Phương Nam có 3 phân khoa đại
học: Kinh tế-Thương mại, Ngoại
ngữ, và Văn khoa. Vào thập niên 1970, viện
đại học này có khoảng 750 sinh viên ghi danh. Thư
viện Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn Viện
Đại Học An Giang (Hòa Hảo):
Thành lập năm 1970 ở Long Xuyên với 5 phân khoa
đại học: Văn khoa, Thương mại-Ngân
hàng, Bang giao Quốc tế, Khoa học Quản trị
và Sư phạm. Viện Đại học này
trực thuộc Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo. Viện
Đại Học Cao Đài:
Thành lập năm 1971 trên đường Ca Bảo
Đạo ở Tây Ninh với 3 phân khoa đại
học: Thần học Cao Đài, Nông lâm mục, và Sư
phạm. Viện Đại học này trực
thuộc Giáo hội Cao Đài. Viện
Đại Học Minh Đức:
Được cấp giấy phép năm 1972, trụ
sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại
học: Kỹ thuật Canh nông, Khoa học Kỹ
thuật, Kinh tế Thương mại, Nhân văn
Nghệ thuật, và Y Khoa. Viện Đại học này
do Giáo hội Công Giáo điều hành. Các
học viện và viện nghiên cứu:
Viện
Pasteur Nha Trang Học
Viện Quốc Gia Hành Chính:
Cơ sở này được thành lập từ
thời Quốc Gia Việt Nam với văn bản ký
ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân
sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền như
thuế vụ và ngoại giao. Trường sở
đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời
về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre
de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100
đường Trần Quốc Toản (gần góc
đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường
3/2), Quận10, Sài Gòn. Học
viện này trực thuộc Phủ Thủ tướng
hay Phủ Tổng thống, đến năm 1973 thì
thuộc Phủ Tổng ủy Công vụ. Học
viện có chương trình hai năm cao học, chia thành
ba ban cao học, đốc sự, và tham sự. Học
Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972-1974): tiền
thân là Trường
Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm
Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972) rồi nhập vào
Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức năm
1974. Ngoài
những học viện trên,
Việt Nam Cộng hòa còn duy trì một số cơ
quan nghiên cứu khoa học như Viện
Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Đà Lạt, Viện
Pasteur Nha Trang, Viện Hải dương học Nha
Trang, Viện
Nguyên tử lực Đà Lạt, Viện Khảo
cổ v.v… với những chuyên môn đặc
biệt. Viện
Pasteur Sài Gòn thời Pháp thuộc. Các
trường đại học cộng đồng:
Bắt
đầu từ năm 1971 chính phủ mở một
số trường đại học cộng đồng
(theo mô hìnhcommunity
college của Hoa Kỳ) như Trường Đại
học Cộng đồng Tiền Giang ở Mỹ
Tho, Duyên Hải ở Nha Trang, Quảng Đà ở
Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long. Trường
Đại học Cộng đồng Tiền Giang
đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường
Đại học Cộng đồng Duyên Hải hướng
về ngư nghiệp. Riêng Trường Long Hồ còn
đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể
Việt Nam Cộng hòa bị giải tán. Ở
Sài Gòn thì có Trường Đại học Regina Pacis
(khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công
Giáo thành lập, và theo triết lý đại học
cộng đồng. Các
trường kỹ thuật và huấn nghệ:
Trường
Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Hàng Hải
thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Ngoài
những trường đại học còn có hệ
thống trường cao đẳng như Trường
Bách khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm súc. Một
số những trường này sang thập niên 1970
được nâng lên tươngđương
với cấp đại học. Trường
quốc gia Nông Lâm mục:
Thoạt tiên là Nha Khảo cứu Đông Dương
thành lập năm 1930 ở B’lao, cơ sở này
đến năm 1955 thì nâng lên thành Trường
Quốc gia Nông lâm mục với chương trình
học bốn năm. Diện tích vườn thực
nghiệm rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi
gia súc,vườn cây công nghiệp, lúa thóc. Qua
từng giai đoạn, trường đổi tên thành
Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm
Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972), Học viện
Quốc gia Nông nghiệp (1972-1974). Cuối cùng Trường
Quốc gia Nông lâm mục được sát
nhập vào Viện Đại học Bách
khoa Thủ Đức ( có trụ sở ở số 45
đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn).
Trường còn có chi nhánh ở Huế, Cần Thơ,
và Bình Dương. Đinh-Tiến-Dũng Dallas-Texas.USA *** Đây
là một tài liệu hay và quý cần lưu giữ
cho hậu thế cùng biết (hoàn toàn không có lý do chính
trị). Xin
bổ sung thêm một ý nhỏ: -
Trong ngành Y, theo hệ thống giáo dục của Pháp,
các BS cựu nội trú, xuất sắc, được
chọn (hoặc được cử) đi Pháp
học 4-5 năm (tuỳ ngành), mỗi người
được 3 GS hướng dẫn dìu dắt nghiên
cứu. Cuối cùng họ phải hoàn thành một
luận án có giá trị được cả 3 "sư
phụ" đồng ý và Hội đồng
Quốc Gia (Pháp) công nhận thì mới đậu
Thạc Sĩ (Agregé). Hầu hết những người
đậu Agregé đều trở thành GS nên các
vị ấy đều được gọi là
Professeur Agregé. Ở trường ĐH Y Khoa Saigon, sau năm
1956 só 13 người được gởi đi Pháp
đào tạo sau khi tốt nghiệp trở về,
trở thành GS dạy ở truòng ĐHYK Saigon, như
GS Ngô Gia Hy, GS Nguyễn Hữu, GS Nguyễn Ngọc
Huy... Riêng GS Trần Lữ Y, vì lý do riêng chỉ
nhận bằng Agregé des pays etrangé (Thạc sĩ
của nuóc ngoài). -
Thời trước 75, có thẻ học sinh, thẻ
sinh viên còn oai hơn thẻ căn cước (CMND ngày
nay) vì có thẻ sinh viên hay thẻ học sinh
được nhiều ưu tiên. Như khi mua vé xe
hay vé máy bay được giảm 30%, khi ra phi trường
đưa thẻ sinh viên, người kiểm tra
chỉ liếc qua, mời qua cổng, có khi còn mĩm
cười chào! BS
Nguyễn Ngọc Hiền Nha
Trang Đt: 0918080000 |
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||