|
Chuyện
tình Huyền Trân công chúa |
|
1*.
Mở bài
Chuyện
tình Huyền Trân công chúa đã được nhắc
tới nhiều trong dân gian Việt Nam, dưới
nhiều góc độ khác nhau. Người
thì ca ngợi công chúa đã thay mặt triều đình
nhà Trần, thực hiện công tác chính trị,
ngoại giao, tạo hoà bình giữa hai nước,
đã thường xuyên tranh chấp lâu đời
với nhau. Hơn nữa, cuộc hôn nhân đã mang
lại cho Đại Việt hai châu Ô và Lý (Rí), xem như
mở rộng bờ cõi. Công chúa đã thực
hiện một sứ mạng hoà bình. Cũng
có người tiếc cho công chúa xinh đẹp, lá
ngọc cành vàng, phải xa quê hương trao thân
gởi phận cho người chồng thuộc sắc
tộc lạc hậu, “man di”, trong ý nghĩa của
những câu: “Tiếc thay cây quế giữa rừng,
để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo”
hoặc tiếc cho “cái bông hoa lài cắm bãi cứt trâu”. Cuộc
đời của Huyền Trân công chúa là một
chuổi bất hạnh. Đã trở thành goá phụ
ở tuổi ngoài hai mươi, và sau đó xuống tóc
đi tu cho hết cuộc đời trần thế. 2*.
Nhà Trần
Nhà
Trần trị vì 175 năm với 13 hoàng đế.
Khởi đầu nhà Trần là do Trần Thủ Độ
bắt ép vua cuối đời nhà Lý, là Lý Huệ Tông,
phải đi tu, và nhường ngôi lại cho con gái là
công chúa Lý Chiêu Hoàng lúc 7 tuổi. Trần Thủ Độ làm quan dưới triều nhà Lý, mà vị vua lập nên cơ nghiệp nhà Lý là Lý Công Uẩn, tức Lý Thái Tổ (Dời đô về Thăng Long). Trần Thủ Độ là người có nhiều mưu mô, ông đưa người cháu là Trần Cảnh, 8 tuổi, vào phục vụ cho Lý Chiêu Hoàng, rồi dàn xếp để Lý Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh, và nhường ngôi lại cho chồng, là Trần Thái Tông vào năm 1225. Trần
Cảnh lên ngôi là Trần Thái Tông, con rể của Lý
Huệ Tông. Trần Cảnh còn nhỏ nên tất
cả quyền bính đều nằm trong tay Thái sư
Trần Thủ Độ. Nhà Trần hùng mạnh nhờ những tướng tài như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản… Nhà Trần đã ba lần đánh tan quân Mông Cổ nhà Nguyên, vào những năm: 1258, 1285 và 1287, ở nhiều mặt trận như: Thăng Long, Vạn Kiếp, Hàm Tử, Tây Kết…Ở trận Tây Kết, tướng Tàu là Toa Đô bị chém đầu. Năm 1287, Trần Hưng Đạo đánh tan quân Nguyên ở sông Bạch Đằng, bắt sống Nguyên soái Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp…Thái tử Thoát Hoan, con trai của Hốt Tất Liệt, phải chui vào ống đồng cho binh lính khiêng chạy về nước Trần
Thủ Độ đoạt ngôi nhà Lý bằng hôn nhân
“ngoại thích” đối với nhà Lý, cho nên
Trần Thủ Độ chủ trương cho người
trong họ kết hôn với nhau, nội tộc, để
tránh cái hoạ “ngoại thích”, tức là người
ngoài dòng họ. Đã có hơn 30 cuộc hôn nhân
“nội thích” trong gia tộc nhà Trần được
ghi nhận. Đó là hôn nhân giữa con chú với con bác,
con cô với con cậu, con dì với nhau. Những
vị vua nhà Trần gồm có: Trần Thái Tông, Thánh Tông,
Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông, Dụ Tông, Hiếu Tông,
Nghệ Tông, Duệ Tông, Thuận Tông, Phế Đế,
Thiếu Đế. Những
vị vua cuối đời nhà Trần bỏ bê chính
sự, cụ thể nhất là Trần Dụ Tông, ham mê
tửu sắc, thích ca hát, thích cờ bạc. Cho xây
cung điện, tạo ra sưu cao, thuế nặng làm
cho người dân đói khổ, ta thán. Trong nước
thì giặc giã nổi lên khắp nơi, trong khi đó,
trong triều đình thì bọn gian thần kéo bè đảng,
lộng hành. Chu
Văn An là
vị quan thanh liêm, trung trực, đã dâng “Thất
trảm sớ” đề nghị trị tội 7 tên
tham quan. Vua Dụ Tông không nghe theo, nên ông cáo quan về nhà dạy học. Vì mãi chơi bời nên nhà vua sức khỏe kém, mất ở 33 tuổi, mà không có con nối dòng, đến nỗi truyền ngôi cho Trần Nhật Lễ, con của một đào hát, được người anh của ông nhận làm con nuôi. Năm 1351,
Ngự y Trâu
Canh, gốc Hoa, thấy Dụ Tông bị liệt
dương, bèn dâng phương thuốc, nói
rằng giết đứa bé con trai, lấy mật hòa
với dương khởi thạch mà uống, và
phải thông dâm với chị hay em ruột của mình,
thì sẽ hiệu nghiệm. Dụ Tông làm theo, thông dâm
với chị ruột là Thiên
Ninh công chúa Ngọc Tha, “quả nhiên công
hiệu”. Trâu Canh từ đấy được yêu
quý hơn, được ngày đêm luôn ở trong
hậu cung hầu hạ thuốc thang, Trâu Canh nhân đó
liền thông
dâm với các cung
nữ. Cuối
cùng, nhà Trần cũng bị mất vào trong tay
“ngoại thích” là Hồ Quý Ly. Năm
1400, Hồ Quý Ly truất ngôi của cháu ngoại là Trần
Thiếu Đế, tự lên làm vua lấy
quốc hiệu là Đại
Ngu, lập nên nhà Hồ. Năm
1406, nhà Minh đem quân sang xâm chiếm Đại Ngu. Do
không được lòng dân, binh sĩ bất mãn, nên nhà
Hồ nhanh chóng thất bại. Năm 1407, Hồ Quý Ly
và con là Hồ Hán Thương bị quân Minh bắt,
giải về Tàu. Nhà Hồ làm vua được 7 năm.
Nhà Minh cai trị nước ta, đổi tên lại là
Giao Chỉ. 3*. Thái
thượng hoàng Trần Nhân Tông đi thăm Chiêm Thành
Vua
Trần Nhân Tông,
sau khi truyền ngôi cho con là Trần Anh Tông, đã
rời triều chính, còn giữ chức Thái thượng
hoàng, ông vào ẩn tu trong núi Yên Tử (Quảng Yên). Ngài là con trưởng của Trần Thánh Tông, sinh ngày 7 tháng 12 năm Mậu Ngọ (1258). Ngài tuy ở địa vị sang cả, mà trong tâm thì hâm mộ Thiền Tông từ thuở nhỏ. Ngài là người sáng lập ra dòng Thiền Tông Trúc Lâm, dòng Thiền tông lớn nhất tại Việt Nam. Người dân gọi ông là Phật hoàng Trần Nhân Tông. Vào
tháng 2 năm Tân Sửu (1301), theo lời mời của
vua Chiêm Thành, Thái thượng hoàng tháp tùng sứ
bộ Chiêm Thành, đến thăm nước nầy.
Đi thuyền buồm đến Chiêm Thành mất
nửa tháng. Khi tiếp kiến vua Chế Mân, ông mặc áo nâu sồng, tay bưng bình bát, được vua Chiêm trân trọng tiếp đón, và đích thân hướng dẫn đi thăm viếng các đền chùa, cố đô, cổ miếu, cùng các danh lam thắng cảnh của người Chàm. Và cũng đàm đạo về tôn giáo. Chín tháng ở Chiêm Thành trôi qua. Trong buổi tiễn hành, Thái thượng hoàng hứa gả con gái là Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm, để nối tình thông gia giữa hai nước, vốn đã có những sự tranh chấp lâu đời. Năm
1305, Chế Mân sai sứ là Chế Bồng Đài và hơn
100 người, đem vàng bạc, hương liệu
quý hiếm, đến dâng vua Đại Việt, để
xin cưới Huyền Trân công chúa. Triều đình không
bằng lòng, chỉ có Văn túc Vương Đạo
Tái và Trần Khắc Chung tán thành. Sau đó, Chế Mân dâng châu Ô và châu Rí (Lý) làm sính lễ, và hứa phong tân nương Huyền Trân làm hoàng hậu nước Chiêm. Châu Ô,
từ Đèo Lao Bảo đến sông Thạch Hản,
nay là Quảng Trị. Châu Lý, ngày nay là Thừa Thiên-Huế. Tháng 6 năm
Bính Ngọ (1306) Huyền Trân lên đường sang Chiêm
quốc. Nhà Trần tiếp nhận 2 châu
Ô, Lý và đổi tên thành châu Hoá và châu Thuận. 4*.
Huyền Trân công chúa Huyền
Trân là con gái của Trần Nhân Tông, là em của vua
Trần Anh Tông. Huyền Trân công chúa là cháu ngoại
của Hưng Đạo vương Trần Quốc
Tuấn. Mẹ của bà là con của Trần Hưng
Đạo. Bà
sinh năm 1287. Năm 1301, Thái thượng hoàng có
hứa gả Huyền Trân cho vua Chế Mân. Năm
1306, Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý (Rí) làm của hồi
môn, cho nên Trần
Anh Tông đồng ý gả Huyền Trân cho Chế Mân. Huyền Trân được phong làm hoàng
hậu Paramecvari. Một năm sau đó, vào tháng 5 năm
1307, Chế Mân băng hà. Tháng 8 năm
1308, Huyền Trân về nước, và xuất gia đầu
Phật ở núi Trâu Sơn (Bắc Ninh). Bà
mất ngày mồng 9 tháng giêng năm Canh Thìn (1340), 53
tuổi. 5*.
Chế Mân và nước Chiêm Thành 5.1.
Chế Mân
Hình
Chế Mân trên sân khấu cải lương và bản
đồ nước Chiêm Thành, màu xanh lam Chế
Mân, hay Jaya Sinhavarman III,
là vua thứ 34 của Vương quốc Chiêm Thành,
ở vào thế kỷ 14. Chế Mân
có tài thao lược, vào năm 1282, khi Hốt Tất
Liệt đem 500,000 quân Mông Cổ sang tấn công đánh
Đại Việt và đồng thời đem 5000 quân,
100 hải thuyền và 250 chiến thuyền, tấn công
đánh Chiêm Thành. (1282-1285) Chế Mân
chỉ huy 20,000 quân chận đường đánh
tan quân nhà Nguyên trên đường biển. Trận
đánh có sự yểm trợ của nước Đại
Việt trên đường bộ. Là
anh hùng dân tộc, ông lên ngôi lấy hiệu là Jaya
Sinhavarman III, người Việt Nam gọi là Chế Mân. Chế
Mân có vợ chính thức là hoàng hậu Tapasi, người
Java (Indonesia). Năm
1305, vua Chế Mân sai sứ Chế Bồng Đài
cùng hơn 100 người, đem vàng bạc, châu báu cùng
với những cống phẩm làm sính lễ, sang
dạm hỏi, ngõ ý về lời hứa của Thái Thượng
hoàng Trần Nhân Tông. Sau khi thảo luận cùng với
triều thần, đến tháng 6 năm Bính Ngọ
1306, Huyền Trân công chúa lên thuyền sang Chiêm
Quốc nên duyên cùng với vua Chế Mân. 5.2. Nước
Chiêm Thành bị xóa tên trên bản đồ thế
giới Nói thêm
về nước Chiêm Thành. Các vua
cuối đời Trần ham mê tửu sắc, chú tâm
hưởng lạc. Triều đình chia bè phái, tranh
nhau tham ô. Không ai lo mở mang, bảo vệ đất
nước, nên vua Chiêm Thành, thời đó là Chế
Bồng Nga, đã ba lần đánh chiếm Thăng
Long. Cướp của, giết người, bắt
phụ nữ đem về nước. Các vua nhà
Trần ôm của cải chạy trốn. Năm
1390, khi giao chiến với quân Đại Việt, vua
Chiêm là Chế Bồng Nga bị giết. Chế
Bồng Nga chết, đạo quân thiện chiến cũng
chết theo, mở đường cho Đại
Việt xâm lăng Chiêm Quốc. Vua Chiêm là Trà Toàn
phải cầu viện quân nhà Minh tiếp cứu. Tới
đời vua Lê Thánh Tông,
(1460-1497), nhà vua thân chinh ra mặt trận đánh Chiêm
Thành. Quân Đại Việt đã giết 60,000 binh lính
và người dân. Bắt sống Trà Toàn và hơn
30,000 tù nhân đem về làm nô lệ. Kết thúc
triều đại vương quốc thứ 14, Nước
Chàm xem như bị xóa tên trên bản đồ
thế giới. 6*.
Huyền Trân công chúa về Chiêm quốc
Ngày cưới,
các quan văn võ nhà Trần, cùng dân chúng tiễn
đưa Huyền Trân hơn 1000 người. Dân chúng
đi tiễn đông nghẹt, tiếc thương nàng
công chúa Đại Việt, lấy người dị
tộc, khác biệt về văn hóa, phong tục,
tập quán, ngôn ngữ, chắc gì được
hạnh phúc?. Nhưng công chúa nhận thức được
rằng, đó là lợi ích của dân tộc, chấm
dứt chiến tranh, mang hòa bình cho cả hai nước,
nên nàng sẵn sàng ra đi. Hơn nữa, thực
hiện lời hứa của phụ hoàng. Huyền
Trân rạng ngời trong ngày cưới, bên ngoài
nhiều lời xì xầm, bàn tán. Cho đến nay, người
đời sau vẫn nhớ Huyền Trân Công Chúa, đã
có công mở mang bờ cõi của Đại Việt
về phía Nam. Hôn
lễ của Huyền Trân và Chế Mân, được
tổ chức rất linh đình tại Chiêm Quốc.
Nhà vua ra tận cửa biển đón Huyền Trân
Công Chúa. Chế Mân mặc áo bào trắng, quần
che cũng màu trắng, ngoài khoác áo giáp đan bằng
sợi vàng, chân mang hia đen thêu chim thần Garuda, ngang
ngực thắt đai ngọc, lủng lẳng bên hông
thanh bảo kiếm, khắc hình đầu thần
Ganesa, đầu voi mình người, vỏ kiếm
bằng vàng, chuôi kiếm bằng ngà voi, nạm
hồng ngọc, đầu đội mũ bằng vàng,
chóp nhọn, trên đỉnh nạm một viên ngọc
quý to bằng trứng chim sẻ luôn tỏa ánh sáng 7 màu. 7*.
Cuộc giải cứu Huyền Trân công chúa
7.1.
Dự định giải cứu Huyền Trân công chúa Chỉ mới làm vợ của Chế Mân trong 11 tháng, Huyền Trân công chúa trở thành góa phụ ở tuổi 25. Chế Mân chết lúc 50 tuổi, trong một trường hợp thật “vô duyên”. Đó là gió lốc làm gãy một cành cây to trong vườn, rơi xuống trúng ngay vào gáy, khi ông đang tắm nắng để trị bịnh ngoài da. Đó là bịnh hắc lào (Bịnh lác đồng tiền). Bịnh do một thứ nấm gây ra, làm ngứa ngáy nên phải gãi. Có hai thứ lác, lác ướt và lác khô, rất hay lây. Lễ hoả táng Chế Mân vào tháng 9 năm Đinh Mùi (1307), thọ 50 tuổi, trị vì 26 năm. Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại như sau: “Theo tục lệ Chiêm Thành, hễ vua mất thì hoàng hậu phải lên giàn hỏa thiêu để chết theo. Vua (Trần Anh Tông) biết thế, sợ công chúa bị hại, bèn sai bọn Khắc Chung, mượn cớ sang viếng tang, rồi nói, nếu hỏa táng công chúa thì việc làm chay không có người chủ trương, chi bằng, ra bờ biển chiêu hồn ở chốn ven trời, đón linh hồn Chế Mân, cùng về rồi hãy lên giàn hỏa thiêu. Người Chiêm Thành nghe theo, Khắc Chung dùng thuyền nhẹ, cướp lấy công chúa đem về…” 7.2.
Việc giải cứu có nhiều nghi vấn Vì không có sử liệu chính xác, đáng tin
cậy, nên việc giải cứu Huyền Trân công chúa
được thể hiện dưới nhiều hình
thức khác nhau. Đầy nhiều nghi vấn. Chế
Mân chết vào tháng 6 năm 1307, nhưng tới tháng 10,
triều đình Nhà Trần mới nhận được
tin báo của Chiêm Thành. Sau 4 tháng, Trần Khắc Chung
mới lên đường sang Chiêm quốc, và khi đó
Huyền Trân vẫn còn sống. Nghĩa là không có
việc lên giàn hỏa táng. Theo tục lệ, thì xác
Chế Mân phải chôn, hoặc hỏa táng trong vòng 7 ngày
sau khi chết, vì ở thời điểm đó không có
phương tiện giữ xác, chống sình thúi.
Việc hỏa thiêu hoàng hậu cũng được
hỏa táng ngay sau đó. 1). Trần Khắc Chung giả dạng giặc Tàu
Ô bắt cóc công chúa Huyền Trân. Vua Trần Anh Tông bàn kỹ với Phạm Ngũ
Lão và giao cho Trần
Khắc Chung thi hành. Trần Khắc Chung và Đặng
Thiệu lên đường vào Đồ Bàn, dâng
lễ phúng điếu vua Chăm, rồi tìm cách
đưa công chúa về nước để tránh
bị lên giàn hỏa. Trần Khắc Chung tâu với tân
vương là Chế A Đà Ba, xin cho hoàng hậu làm
lễ cầu hồn Chế Mân. Lễ sẽ đặt
ở bờ biển thanh vắng, vào lúc hoàng hôn
vắng lặng, thì vong hồn Chế Mân mới dễ
trở về. Rồi ngay sau đó hỏa táng hoàng
hậu Huyền Trân. “Nếu
công chúa hỏa tang thì việc làm chay không có người
chủ trương, chi bằng ra bờ biển chiêu
hồn, đón linh hồn nhà vua Chế Mân cùng về
rồi sẽ hỏa thiêu”
Chế
A Đà Ba chấp thuận và truyền cho các pháp sư
phối hợp soạn thảo chương trình và nghi
thức tế lễ. Thuyền đưa Huyền Trân
ra biển vào lúc hoàng hôn. Sau khi mãn lễ đàn tràng,
Huyền Trân cùng chư tăng, quan khách chuẩn bị
trở về, thì đoàn thuyền của Khắc Chung,
giả dạng giặc Tàu Ô, xông ra chận đánh và
bắt cóc công chúa Huyền Trân. Thuyền
pháp sư bị đánh chìm, 5 sư tăng bị nước
cuốn mất tích, và sau đó được lập
miếu thờ tại bờ biển. Theo kế hoạch ém nhẹm việc giải cứu, thuyền của Khắc Chung hộ giá công chúa lênh đênh trên biển vùng Khoái Long, suốt 9 tháng để vua Chiêm không nghi ngờ về việc triều đình nhà Trần bắt cóc công chúa 2). Việc 9 tháng trên biển không hợp lý Với tư cách là một đại công thần nhà Trần, Trần Khắc Chung có cả chục phương cách để giữ bí mật về việc bắt cóc và đưa công chúa về Thăng Long. Trên thuyền có ít nhất là vài chục binh lính làm thủy thủ, phục dịch mọi thứ về đời sống cho vài chục người trên biển. Phải đi chợ mua thực phẩm mỗi tháng 4 lần. Chín tháng trên biển phải chịu đựng bốn mùa phong ba bão táp, sóng to gió lớn… Về chuyện ấy, chỉ có trời biết, đất biết, 2 người đó biết, hàng chục binh lính biết…Cho nên dân gian truyền miệng có câu. Tiếc
thay hột gạo trắng ngần Đã vo nước đục, lại vần lửa rơm “Nước
đục” ám chỉ Chế Mân thuộc sắc
tộc lạc hậu, thằng Mán, thằng Mường. “Lửa rơm” ám chỉ Trần Khắc Chung và Huyền Trân. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Việc binh vực công chúa Huyền Trân có công mở mang bờ cõi thì không ai chối cãi được. Còn việc ấy thì chỉ có trời biết. Theo
Phạm Văn Sơn, trong Lược sử Toàn thư,
thì “Việc Trần Khắc Chung lập mưu
đưa Huyền Trân về nước, sau khi Chế
Mân qua đời là, việc bất tín đối
với Chiêm Thành, thì phản ứng của nước
Chiêm là chính đáng”. Đó là việc Chế
Bồng Nga đã đòi lại đất của hai châu
Ô, Lý. Đã có ba lần đánh chiếm Thăng Long, và
các vua nhà Trần đã ôm của cải chạy
trốn. 8*. Kỹ thuật xây tháp của người Chăm Người Chăm đã phát triển hàng trăm
năm, thể hiện kỹ thuật xây tháp với
kiến trúc rất tinh tế, đến nay vẫn còn
những bí ẩn về kiến trúc và kỹ thuật
làm gốm. Bí ẩn vẫn còn bí ẩn, cụ thể
là xây tháp không vôi vữa, không xi măng.
Tháp
Poshanu (Tháp Chàm) ở Phan Thiết
Tháp Po Klong Garai, Ninh Thuận
* Tháp ở Mỹ Sơn, Quảng Nam 9*. Lễ hội Đền Huyền Trân ở Thừa Thiên-Huế
Điện thờ Công chúa Huyền Trân Hàng
năm tỉnh Thừa Thiên-Huế mở hội Đền
Huyền Trân, tại núi Ngũ Phong, phường Tây An,
thành phố Huế. Tham
dự lễ gồm có đông đảo người dân,
tăng ni phật tử, các chức sắc tôn giáo, và
cả khách du lịch. Chương trình buổi lễ gồm có, màn trình diễn hoạt cảnh thể hiện công chúa là người có công mở mang bờ cõi. Những điệu ca múa được những thiếu nữ sắc tộc Chàm và nghệ sĩ người Việt thực hiện.
Lễ hội là dịp tưởng nhớ công ơn mở mang bờ cõi của công chúa Huyền Trân, người con gái yêu thương và xinh đẹp của vua Trần Nhân Tông, vì sự nghiệp lớn là đem về cho Đại Việt một vùng đất Châu Ô, Châu Lý diện tích vuông ngàn dặm. 10*. Chuyện tình Huyền Trân công chúa trong thi ca và âm nhạc Chuyện
tình Huyền Trân Công Chúa đã đi vào thi ca, âm
nhạc, nghệ thuật. Trong thời đó, dân gian cho
rằng Chiêm Thành là một dân tộc thấp kém nên có
câu: Tiếc thay cây quế giữa rừng Để cho thằng Mán, thằng Mường
nó leo. Trong bài` hát “Nước non ngàn dặm ra đi” theo điệu Nam Bình, có người cho rằng Công chúa đã thốt ra trên đường đi về Chiêm Quốc: “Nước
non ngàn dặm ra đi… Mối
tình chi! Mượn
màu son phấn Đền nợ Ô, Lý Xót
thay vì, Đương độ xuân thì. Số lao đao
hay nợ duyên gì? Đó
là than phiền số phận lao đao để
trả nợ cho hai châu Ô, Rý. 1). Trong âm nhạc. Nhạc sĩ Phạm Duy đã dùng câu “Nước non ngàn dặm ra đi”, nói về tâm sự của công chúa Huyền Trân trên đường sang Chiêm Quốc: Nước
non ngàn dặm ra đi… Dù
đường thiên lý xa vời Dù
tình cố lý chơi vơi Cũng
không dài bằng lòng thương mến người… Trong bài “Trường ca trên đường cái
quan” của Phạm Duy, nhạc sĩ đã phổ
nhạc những bài thơ của Đào Tuyến
Luyện. Các nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Châu Kỳ,
Nam Lộc, và cổ nhạc cũng đã dựa vào
Huyền Trân công chúa. 2). Tiểu thuyết lịch sử Cuốn tiểu thuyết “Bão táp triều
Trần” có 4 tập: Bão táp cung đình, Thăng Long
nổi giận, Huyền Trân công chúa, Vương
triều sụp đổ, được xuất
bản năm 2003. Dịch giả Chapui Gérard chuyển
sang tiếng Pháp cuối năm 2009 và phát hành năm
2012. 11*. Đặt tên đường Huyền Trân
Công Chúa Huyền Trân công chúa được vinh danh như
người phụ nữ đã góp phần mở mang
đất nước và kiến tạo hòa bình, cho nên
đã có 12 con đường mang tên Huyền Trân Công
Chúa. Riêng ở Sài Gòn có hai con đường, một
ở quận 1, và một ở quận 11. 12*. Kế luận Người mở mang bờ cõi, bảo vệ
lãnh thổ thì được người dân tôn vinh,
nhất là người thiếu nữ, công chúa đời
Trần. Huyền Trần. Trái lại, trong lịch sử dân tộc đã có những tên bán nước cầu vinh, thì lịch sử nguyền rủa. Nhất là ở thời đại của thế kỷ 21, vẫn còn có những tập đoàn bán nước. Bán nước có truyền thống. Nhục quá! Hết nước nói. (Tiếng Tây là phi nỉ lô đia) Trúc
Giang MN Minnesota
ngày 8-9-2022 |