|
VIẾT VỀ BÊN NGOẠI Nguyễn Mạnh Trí |
|
Bài
viết do ông Nguyễn Mạnh Trí tổng hợp
dựa theo chi tiết do ông Nguyễn Khoa Phước
cung cấp. Ông Nguyễn Khoa Phước hiện
sống tại Virginia là em út của Tướng
Nguyễn Khoa Nam. Tháng
4, 2021. TỔNG
QUÁT Sau
bài viết “Trực hệ của Tướng Nam”, tôi
nghĩ rằng đây là bài cuối tôi viết về
gia đình bên ngoại. Trong lúc tổng hợp cuốn
sách về Tướng Nguyễn Khoa Nam, tôi không liên
lạc nhiều với cậu Phước. Tôi tôn
trọng niềm đau của mổi người trong
gia đình. Gần đây, khi tái lập Website Tranh
Chấp Biển Đông, cậu có gọi qua, cho
biết có lên mạng, khá vui khi thấy được
lan truyền khá nhiều nước trên thế
giới. Cậu năm nay tuổi đã khá lớn,
sức khỏe cũng giảm đi, tôi biết Cậu
phải đi lọc thận mổi tuần 2, 3 lần.
Cậu bảo tôi nên viết một bài về tiểu
sử của ông ngoại, Cậu sẽ cung cấp chi
tiết. Lúc đầu, tôi định lấy tựa
đề là “Tiểu sử cụ Nguyễn Khoa Túc”
nhưng chi tiết Cậu gởi qua ngày càng nhiều nên
tôi sữa tựa bài viết lại là “Viết
về bên ngoại”. Mong Cậu có được
niềm vui khi nói về những người thân trong
gia đình.
Bia
“Nguồn gốc họ Nguyễn Khoa” tại chùa Ba La
Mật ở Huế CỤ
NGUYỄN KHOA LUẬN – VIÊN GIÁC ĐẠI SƯ Họ
Nguyễn
Khoa, nguyên là Nguyễn Đình, gốc ở làng Trạm Bạc,
tỉnh Hải
Dương, nay thuộc huyện An Hải,
thành
phố Hải
Phòng. Đến đời thứ 3,
Triều
đình sắc cho đổi họ Nguyễn Đình thành họ Nguyễn Khoa,
cùng thời với họ Nguyễn hoàng
tộc bắt đầu thêm chữ lót thành
Nguyễn
Phước từ năm 1557.
Họ Nguyễn
Đình không thuộc nhánh cụ Nguyễn Đình Thân
vẫn còn ở Hải Phòng. Trực
hệ của cụ Nguyễn Khoa Túc bắt đầu
từ cụ Nguyễn Khoa
Luận
- Viên
Giác Đại Sư
(ông
nội: đời thứ 9), cụ Nguyễn Khoa
Hoằng
(thân
phụ: đời thứ 10). Viên
giác Đại
sư Nguyễn Khoa Luận (1834-1900) là
con trai thứ 2 cụ Phủ An Nhơn
Nguyễn Khoa Học,
tự Đàm Trai,
đạo hiệu
Viên
giác Đại
sư, pháp danh
Thanh
Chân làm quan đến chức Bố chánh
nhưng gặp buổi vận nước suy
vi, quân Pháp xâm chiếm nước ta, Ngài
trao ấn từ quan, về lập chùa Ba
la mật
để tu. Ngài là một vị chân tu, giới
hạnh được người đương
thời vô cùng kính
phục. Trước khi đi tu, ngài lập gia đình với 2
bà -
Chánh thất
và Thứ thất là 2 bà Công Tôn
Nữ Thị Thứ
và Công Tôn Nữ
Thị Xuân
là 2 chị em khác mẹ - Con: 10 trai và 5 gái:
NK Ty,
NK Lượng, NK
Hoằng,
NK Đạm,
NK Tân, NK Trạm,
NK Tùng, NK
Tý,
NK Đông,
NK Trạch,
NK Thị Hợi, NK
Thị Nhàn,
NKThị Nhã,
NK Thị
Mão,
NK Thị Thành
(cụ
NK Ty mất sớm nên trong gia phả ghi cụ NK Lượng
và cụ NK Hoằng là con đầu và thứ hai). Trong
các người con của cụ Nguyễn Khoa Luận có
ông thứ 3 là NK Đạm làm đến
chức Thượng thư (Gia
phả Tộc Nguyễn Khoa - trang 124/217).
Cụ
Nguyễn Khoa Luận – Viên Giác Đại Sư Đến
đời cụ Nguyễn
Khoa Hoằng là
Hàn lâm
viện Thừa
biện - Vợ:
3 bà với 7 trai và 10 gái - Chánh
thất:
bà Nguyễn Thị Khê sinh 4 trai và 5 gái: NK Túc, NK Trọng, NK Tuất và NK Dậu
(mất sớm), NK
Diệu Tích, NK
Diệu Ngân, NK Diệu Hoàng, NK Diệu
Đào, NK
Diệu Cảnh
- Kế thất: bà Lê
Thị Quí
và 1 bà thiếu tên tuổi sinh 3 trai và 5 gái: NK
Biểu,
NK Hữu,
NK Hy, NK Diệu
Châm,
NK Diệu Ngọ,
NK Diệu Oanh, NK Diệu Ái
và NK Diệu Hồng (Gia
phả Tộc Nguyễn Khoa - trang 139/217). Có
một chi tiết mang tính cách lịch sữ: Cụ bà
Nguyễn Khoa Hoằng là Nguyễn thị Khê, con gái
của cụ Nguyễn Văn Tường, người
Quảng Trị. Thời
vua Tự Đức và các triều kế tiếp,
cụ Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất
Thuyết là 2 vị cận thần, khuynh loát cả
một giang sơn. Cụ Nguyễn Văn Tường
là ông Ngoại của cụ Nguyễn Khoa Túc, sui gia
với cụ Nguyễn Khoa Luận. Lý do nào để
2 Cụ kết tình thông gia không nghe kể lại,
chỉ biết ngài NK Luận là vị tu hành, bỏ
chức Án Sát đi tu, còn cụ Nguyễn văn
Tường thì chọc trời khuấy nuớc, mưu
lược hơn người. Pháp bắt ông đem đày
ra đảo quốc Phi Châu. Các con phải đổi
họ Nguyễn Văn thành Nguyễn Quốc như giáo
sư tiến sĩ Viện Trưởng QGHC/VNCH
Nguyễn Quốc Trị (Maryland) và ông Nguyễn Văn Đãi,
QGHC khóa 1, Đại biểu Chính phủ Vùng 1
Chiến thuật, bị VC bắt ra Bắc trong dịp
Tết Mậu Thân, đến năm 1980 mới tha
về. TIỂU
SỬ CỤ NGUYỄN KHOA TÚC Nguyễn Khoa Túc là con
trưởng của cụ Nguyễn Khoa Hoằng và chánh thất sinh năm
1986 nhằm thời vua Tự Đức tại làng
Tây Thượng, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên,
Huế.
Ngoài 2 người em trai mất sớm (NK Tuất
và NK Dậu),
ông Nguyễn Khoa Túc có 4 em trai và 10 em gái: 1 em trai (NK Trọng)
và 5 em gái (NK Diệu Tích, NK Diệu Ngân, NK Diệu Hoàng, NK Diệu
Đào, NK
Diệu Cảnh)
thuộc nhánh chính thất cùng 3 em trai (NK
Biểu,
NK Hữu,
NK Hy) và 5 em gái
thuộc nhánh thứ thất (NK Diệu Châm,
NK Diệu Ngọ, NK Diệu
Oanh, NK Diệu Ái
và NK Diệu Hồng).
Cụ
Nguyễn Khoa Túc Ông
NK Túc đi ngành Sư Phạm, còn ông NK
Trọng làm thư ký Tòa Khâm. Ông NK Túc tốt
nghiệp Sư phạm năm 1905, 21 tuổi ra dạy
truờng tiểu học Thanh Hóa, về sau đổi
về dạy trường Ecole des Garcons (Nam Tiểu
học - Tourane), nhà ở dãy 14 gian, thuê của ông
Nguyễn Bá Giản (ông Huờng Giản). Năm 1915, ông được
chuyển sang ngạch giáo viên chương trình Pháp vì Đà
Nẵng là thuộc địa của Pháp, ông
từ giả ngạch Nam Triều của Hoàng đế
Bảo Đại. Ông hưởng lương
theo quy chế của công chức Pháp. Năm 1928, ông đuợc
giao chức vụ Hiệu trưởng trường
Ecole des Garcons (Nam tiểu học). Lúc bấy giờ ở
Đà nẵng chỉ có trường Ecole des Garcons và
Ecole des Filles (Nữ tiểu học). Năm 1933, ông đuợc
thăng chức Thanh tra Sở giáo dục Đà
Nẵng cho đến lúc về hưu 1941. Trong
thời gian ông làm giáo viên tại trường Nam
TH Đà Nẵng, khoảng đầu năm 1919, bà
vợ chánh thất là Trương thị Diệu
bị bệnh qua đời, ông ở vậy nuôi
con, lúc đó con gái của ông là Nguyễn
Khoa Diệu Khâm mới 2 tuổi. Năm 1926, ông
về Huế gặp bà Công Tôn Nữ Mộc Cẩn
thuộc phòng Tuy Lý Vương ở làng Vỹ
Dạ và xin cuới làm vợ sau 5 năm sống độc
thân. Lúc đó ông đã 40 tuổi. Ông có 2
người con trai đầu: Nguyễn Khoa Ấm và
Nguyễn Khoa Phi. Cả hai đều mất sớm. Ông
NK Ấm mất năm 1932. Ông NK Phi mất năm 1939 lúc
còn học Đại học Y khoa tại Hà Nội. Năm
1927, sinh ra con trai thứ ba là Nguyễn Khoa Nam và ngày
2/2/1935, sinh con trai út là Nguyễn Khoa Phuớc. Năm
1941 ông về hưu đúng tuổi theo quy chế công
chức thời Pháp thuộc (55 tuổi). Từ khi
lập gia đình, ông chưa hề có một căn nhà
riêng, nay về hưu ông và gia đình về
Huế ở nhà của ông thân sinh để
lại ở Bến đò Chợ Dinh. Ở đây, ông
có đuợc môt khu vuờn và một căn nhà do Ông
Bà để lại vì ông là con truởng của ông NK
Hoằng. Khu vuờn rất rộng và đẹp,
dựa bên bờ sông Huơng, từ bến đò
chợ Dinh vô sau hơm 150 m, phía sau là đuờng vô làng
La Ỷ, trước mặt là con đuờng từ
đuờng Thuận An (bây giờ là Nguyễn Sinh Cung)
xuống tận bến đò. Khu vườn rộng
gần 2 mẫu, quanh năm cây cối xanh tươi như
ổi, mận đào, cam, quýt, thanh trà, vả và
nhiều loài hoa đẹp, duới bờ sông là
một hàng tre xanh muớt, đúng là một nơi
nghỉ ngơi lý tuởng ở một vùng ngoại ô
thành phố Huế. Trước khi về hưu, bà
ngoại đã bàn với ông ngoại về việc làm
một ngôi nhà mới vì nhà cũ đã quá xưa,
mục nát, hiện do O Kiều ở. O Kiều là bà
hầu của ông NK Hoằng, tuổi chỉ bằng ông
ngoại. O Kiều sinh đuợc ông Nguyễn Khoa
Biểu, sinh ra Diệu Quyên nay 91 tuổi còn ở
Huế, Diệu Ái ở Portland, Oregon cùng cô NK Diệu
Hồng. Căn
nhà bắt đầu khởi công tháng 6 năm 1940 do
nguời em rễ đứng thầu và trông coi. Đó
là ông Nguyễn Đức Tích, chồng của bà em
của bà Thông Tích. Bà ngoại vẫn ra vào Huế
để trông coi việc xây nhà, đến tháng 2/1941
mới xong, trị giá 2,500 đồng Đông Dương.
Nhà làm theo mẫu nhà cụ Ưng Thuyên, xây từ 1936
nhưng lớn hơn nhiều, trị giá 5 ngàn đồng,
gia đình không đủ tiền để xây như
vậy. Cụ Ưng Thuyên là ba vợ ông GS Nguyễn Văn
Hai.
Nhà ông ngoại ngay trên phía phải của Bến đò Chợ Dinh. Cầu Chợ Dinh chỉ mới được xây năm 2003 Ông
về hưu năm 1941 và trở về Huế. Việc ưu
tiên là ông vô Chùa Ba La để tu học. Nhà
gần Chùa nên việc đi chùa thật dễ dàng.
Lúc bấy giờ, Trụ trì chùa Ba La là thầy Thích
Trí Thủ, môt vị tu sĩ uyên thâm giáo lý nhà
Phật và cũng am tuờng Nho học. Thầy Trí
Thủ nhỏ hơn ông 14 tuổi nhưng rất thân
tình và tương đắc. Mỗi ngày ông
ngoại vô chùa buổi sáng và chiều tối mới
về nhà, việc nhà đều do bà ngoại quán
xuyến. Đến năm 1947, sau khi quân Pháp trở
lại thành phố Huế và tái lập chính quyền
Quốc Gia, ông Trần Văn Lý, chủ tịch
Hội đồng chấp chánh lâm thời Trung Kỳ
mời ông ra làm Hiệu trưởng trưòng Sư
Phạm, cơ quan đào tạo giáo viên tiểu
học, trường đặt tại trường
tiểu học Gia Hội. Lúc bấy giờ tuy tuổi
cao (61 tuổi), ông ra đảm nhận chức
vụ này, do sự đề nghị của Giám đốc
Học chánh Trung Kỳ Ưng Quả. Tháng
12 năm 1948, một hôm trời mưa bất chợt,
trên chuyến đò ngang sông Hương, trên đuờng
trở về nhà, ông bị uớt về nhà
cảm sốt, được đưa đến Bênh
viện của Bác sĩ Phan đình Tuân ở
Gia Hội. Lúc bấy giờ Huế chưa có thuốc
trụ sinh, nên ông đã qua đời sau hơn
một tháng. Ông mất ngày 22 tháng 2 năm 1949, thọ
63 tuổi. Đại
gia đình ở đây cho đến khi ông mất thì
con cháu dời lên ở số nhà 64, đường Gia
Hội (sau này đổi tên là đường Chi Lăng)
đối diện với đường Trung Bộ. CỤ
NGUYỄN KHOA TÚC VÀ CHÙA BÀ LA MẬT Khi
nói về dòng họ Nguyễn Khoa thì phải đề
cập đến 3 ngôi chùa: Chùa Ba La Mật và chùa Trà
Am ở Huế và chùa Già Lam ở Sài Gòn. Vị
trí chùa Bà La Mật (trên cùng) và chùa Trà Am (gần
Quốc lộ 1, phía Nam Núi Ngự Bình) Chùa
Ba La Mật: Nay thuộc xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, bên
phải đường từ Huế về Thuận An.
Người khởi dựng năm Đồng khánh nguyên
niên (1886) là bà Công Tôn Nữ Thị Tư (1839-1899),
hiệu Thanh Trất Từ Thiện phu nhân, tạo nơi
tu hành cho chồng, ông Bố chánh Nguyễn Khoa Luận
(1834-1900), bán thế xuất gia, pháp danh Thanh Chân, Pháp
Hiệu Viên Giác đại sư. Có nhiều người
lộn Ba la mật với Bà La mật. Ba-la-mật-đa
là cách phiên âm thuật ngữ tiếng
Phạn pāramitā, cũng được
viết tắt là Ba-la-mật.
Ba-la-mật-đa được dịch nghĩa là Đáo
bỉ ngạn. Mặc dù nghĩa "đáo
bỉ ngạn" (đạt đến bờ bên kia)
rất được thông dụng tại Đông
Nam Á nhưng cách dịch nghĩa này có lẽ không
chính xác theo từ nguyên trong tiếng Phạn. Cách
dịch "sự cứu cánh" (chỗ tối
hậu của sự việc) có vẻ đúng hơn và
cũng được nhiều nhà Phật
học hiện nay áp dụng. Nó tương
đương từ perfection trong tiếng
Anh và Vollkommenheit trong tiếng
Đức. Năm
1884, lúc đang làm Bố Chánh Thanh Hóa, khi nghe tin vua Hàm
Nghi xuất bôn và phát hịch Cần Vương, ông cũng
hưởng ứng, sửa soạn thành trì, đạn
dược. Nhưng việc không thành, ông xin treo ấn
từ quan, lên chùa trên núi nằm dưỡng bệnh.
Pháp nghi ngờ theo dõi, ông bực mình theo đường
núi vào dẫn đến Quảng Ngãi, ở chùa Thiên
Ân, ít lâu trở về Huế, cũng ẩn tích trong các
chùa, rồi cắt tóc quy y với hòa thượng
Hải Thiệu chùa Từ Hiếu. Phu nhân là Thanh
Trất Từ Thiện thấy ông lênh đênh nay chùa này
mai chùa nọ, bèn bỏ tiền riêng và quyên góp bà con,
dựng ngôi chùa Ba La Mật để sư tu hành,
ở kề nhà thờ họ. Năm
1891, ông thọ tỳ kheo giới tại đại
giới đàn Báo Quốc do hòa thượng Hải
Thiệu làm đường đầu, qua năm 1894 thì
thọ Bồ Tát giới, pháp húy Thanh Chân, pháp danh Viên
Giác. Năm Canh tý (1900), đại sư lâm bệnh,
yếu dần, truyền y bát cho đệ tử Viên Thành,
rồi thị tịch trong năm. Sư Viên Thành kế
thế trụ trì chùa Ba La Mật. Đến năm
1923, sư Viên Thành lập riêng chùa Trà Am, giao lại
cho đệ tử là Trí Hiển về trụ trì.
Đến năm 1928, sư Viên Thành viên tịch, Trí
Hiển phải lên Trà Am làm giám tự, rồi cũng
viên tịch (1840), đại đức Trí Thủ
kế thế trụ trì Ba La Mật. Dòng họ
Nguyễn Khoa, do bà vợ Nguyễn Khoa Tân giữ
chức hội chủ, vận động bà con trùng tu
lần đầu năm 1924, lần thứ hai năm
1937(có bia), lần thứ ba năm 1943, năm 1992 xây thêm
thành phía trước và nhà thờ phía sau. Khuôn viên chùa
rộng khoảng 2,500 m², có la thành bao quanh. Giấy
tờ lưu trữ gồm trích lục địa
bạ, di vật có tấm bia khắc bài văn
thuật tiểu sử Viên Giác đại
sư. Khoảng
năm 1942, chùa do thầy Trí Thủ làm trú trì, có thêm
4 hay 5 chú tiểu cở 14, 15 tuổi tu ở đó,
các chú này sau trở thành những nhà tu lớn nổi
tiếng như thầy Đức Tâm, Đức Trì,
Đức Trạm, Đức Phương. Tình hình kinh
tế của Chùa thật khó khăn vì phải tự
sinh hoạt. Trước đó có Ôn cả
Nguyễn Khoa Truyền (ông nội của anh Nguyễn
Khoa Điềm) lo việc chùa sau ông này mất thì
cụ Nguyễn Khoa Túc phải ra sức kêu gọi
mấy ông Nguyễn Khoa khá giả cố gắng giúp
chùa, vừa lo tu bổ nhà cửa, vừa lo sinh hoạt ăn
uống cho quý Thầy. Mấy ông NK lúc đó đều
là em trong dòng họ nên ông nội cũng dễ nói.
Họ làm quan to nhưng tiền bạc không dư
dả, thấy bề ngoài tuởng giàu có nhưng cũng
chật vật, họ lại đông con, nhiều người đi
du học ở Pháp nên tốn kém, chùa phát triển
rất khá, phải kể công lao của một người
cháu đức tôn của ngài Bala là ông
Nguyễn Khoa Lan, đang làm về Công chánh xây
dựng ở Huế. Ông Lan rất quý ông Nguyễn Khoa Túc (gọi bằng chú) vì bao
nhiêu tâm huyết đều đặt vào chùa. Sau
khi ông mất, Thầy Trí Thủ và các chú bác trong
họ NK rất xúc động. Họ tổ chúc
một đám tang rất trang trọng, với câu đối
do Ông Nguyễn Khoa Toàn viết: "Họ NK và chùa
Ba La mất một nguời lèo lái, một tấm lòng". Ông
Nguyễn Khoa Sừ xúc động gục xỉu bên
quan tài: “Anh ơi, anh mất đi, ai cùng chúng
em lo việc chùa việc họ, có anh việc gì cũng
xong, cuộc đời anh cống hiến cho
Phật tổ và Dòng họ. Anh là một ngôi sao
tắt sớm". Ông
mất năm 64 tuổi.
Cô
Nguyễn Khoa Phượng Tiên tại chùa Ba La Mật
2018 Chùa Tra Am
hay Trà Am:
Chùa Tra Am tọa lạc giữa vùng đối
núi hoang vu dưới chân núi Ngũ Phong, xây từ năm
1923, vốn là một chòi tranh nhỏ do tổ sư Viên
Thành lập nên. Vị tổ sư vốn thuộc dòng
dõi hoàng tộc nhưng vì giác ngộ đạo
Phật đã xin ra khỏi kinh thành dựng am nhỏ ngày
ngày tụng kinh niệm phật. Điều đặc
biệt của Tra Am trước tiên nằm ở tên
gọi “không hề trùng lặp” với tên gọi hàng
ngàn ngôi chùa khác. Đa
phần tên chùa đều được gọi tên
theo ngôn từ trích dẫn trong kinh phật nhưng tên
gọi Tra Am lại bắt nguồn từ một điển
tích mang nặng ân nghĩa. “Thời xưa có câu
chuyện về hai cha con đều là tướng
giỏi của triều đình. Người cha tên Lê,
người con tên Tra. Trong các
buổi thiết triều nhà vua hết lời khen
ngợi Tra tài giỏi, phải cố gắng để
hơn hẳn cha mình mới xứng nhưng Tra không
ngần ngại đáp rằng “Tra bất như Lê”
nghĩa dù có lập nhiều chiến công đến
mấy ông cũng không bao giờ sánh bằng cha mình,
nhờ ơn cha dạy dỗ mới có tướng Tra
ngày nay. Sau khi người cha qua đời, Tra đã
dựng nhà bên mồ thân phụ suốt hai năm ba tháng
để tỏ lòng hiếu nghĩa. Sư Viên Thành cũng
vì muốn báo đáp ân nghĩa của ân sư Viên Giác
nên mới lên núi lập chùa ngay cạnh mộ sư
tổ và lấy tên Tra Am. Ngôi chùa từ đó
được biết đến với ý nghĩa báo
hiếu. Chùa tọa lạc trên một vùng đất
bằng phẳng, yên tĩnh, giữa những rặng thông
khóm trúc xanh ngát, có khe nước uốn khúc, róc rách
quanh năm. Phía nam chùa là núi Thiên Thai, phía đông là núi
Ngũ Phong, phía bắc là núi Ngự Bình. Chùa được ngài Trí
Hiển trùng tu năm 1937 và ngài Như Ý tổ chức
đại trùng tu năm 1960 theo nghệ thuật
kiến trúc Nam Á Châu.
Cảnh trí xung quanh chùa Trà Am là một bài
thơ, một tác phẩm nghệ thuật hiếm
có, tất cả cây cỏ, khe suối, núi đồi,
đá tảng được sấp xếp tạo dáng
để khi ai đó bưóc chân đến ngôi chùa
này cũng cảm thấy phảng phất xung quanh
một sự nhẹ nhàng bay bổng, để tâm
hồn mình trở nên thanh thản, siêu thoát trước
cảnh sắc phong quang thoát tục, ở đó con người
dễ hòa mình trong sự trầm mặc của
triết lý Phật giáo. Cái khung cảnh tuyệt vời
đó cũng nói lên cái sâu sắc, cái ý nghĩa
của con đường đã chọn và cái ngộ
của chủ nhân ngôi chùa Tra Am. Chùa
Trà Am nổi tiếng về cặp rắn tu
vào những năm đầu
của thập niên 40 thế kỷ trước, người
ta bất ngờ thấy có hai con rắn thường
đến “vãn cảnh” nhà chùa vào các ngày sóc
vọng, ngày lễ lớn. Đối với vị
tổ sư của chùa ngày đó (cũng là sư
phụ của sư thầy Thích Thế Thanh, nay đã
quá cố) hình ảnh cặp rắn ấy không
bao giờ phai lợt và câu nói nhẹ nhàng của TT
Viện chủ chùa Trà Am vẫn còn văng vẳng bên
tai: “Phật dạy: tất cả chúng sanh đều
có Phật tánh, những loài như
chim bay trên trời hoặc là những côn trùng nhỏ
nhích đều có Phật tánh cả, nếu
biết tu hành, không chóng thì chầy, đều
sẽ thành Phật?”
Chùa
Trà Am Chùa
Già Lam:
Năm 1960, Hòa thượng Trí Thủ vào Sài Gòn,
tạo mãi khu vườn ở Gò Vấp khai sáng Tu
viện Quảng Hương Già Lam. Năm 1984, khi gia
đình cải táng mộ tướng Nguyễn Khoa Nam
tại Cần Thơ đưa lên Sài Gòn thì Hòa thượng
Trí Thủ là người chủ lể an vị hài
cốt Tướng Nam tại chùa Già Lam và ngài cũng
mất 2 tuần sau đó vào ngày 2 tháng 4 năm 1984, sau
một cơn suy tim đột ngột. Ngài đã thâu
thần viên tịch tại
Bệnh viện Thống Nhất, thọ 76 tuổi đời,
56 tuổi đạo.
Chùa
Quảng Hương Già Lam 2016 THẾ
HỆ NỐI TIẾP Sau
biến cố 30/4/1975, cũng như mọi gia đình
ở miền Nam, dòng họ Nguyễn Khoa cũng có
nhiều gia đình di tản, sang định cư
ở nước ngoài. Trong gia đình cụ Nguyễn
Khoa Túc, ngoài tướng Nguyễn Khoa Nam tuẩn
tiết thì có 2 gia đình con cháu định cư
ở nước ngoài: ·
Bà NK Diệu Khâm
lập gia đình với ông Nguyễn Mạnh Huyền
và có 4 người con: Nguyễn Mạnh Trí (1942),
Nguyễn Mạnh Thông (1944), Nguyễn Mạnh Diệu
Thu (1946), Nguyễn Mạnh Diệu Thúy (1950). Gia đình
có 2 trai và cô con gái út sang Hoa Kỳ. Người con trưởng
Nguyễn Mạnh Trí, vợ là Nguyễn Thị Kim Anh,
qua Hoa Kỳ năm 1975 có 3 người con trai: Patrick
Nguyễn, Tony Nguyễn và Phú Nguyễn với 3 cháu
nội: Josephine Nguyễn, Douglas Nguyễn và Caitlyn
Nguyễn. Người con thứ hai Nguyễn Mạnh Thông
có 2 con trai và một con gái: Nguyễn Mạnh Thái
(Việt Nam), Lilian Nguyễn và Michael Nguyễn. Người
con gái út Nguyễn Mạnh Diệu Thúy có 2 con trai và 2
cháu ngoại. ·
Ông Nguyễn Khoa Phước
(2/2/1935) lập gia đình với bà Trần Thị Kim
Đính và có 4 người con: Nguyễn Khoa Phượng
Tiên, Nguyễn Khoa Quỳnh Tiên, Nguyễn Khoa Đức
và Nguyễn Khoa Bình (Gia phả Tộc Nguyễn Khoa - trang 185/217). Ngoài cô
Nguyễn Khoa Quỳnh Tiên mất sớm thì 3 chị em
Phượng Tiên, Khoa Đức và Khoa Bình qua được
Hoa Kỳ cùng cha mẹ. Nguyễn
khoa Phượng Tiên: Sinh
năm 1961, chồng là Lê hữu Phúc và các con: Andrew Lê
1997 và Kenneth Lê 1998 - Nguyễn Khoa Đức, sinh năm
1966 và vợ Nguyễn Mộng Lành, các con Josehp
Nguyễn Khoa Đan 1999 và Sydney Nguyễn Khoa Diệu
An 2001 - Nguyễn Khoa Bình sinh năm 1975, vợ là Kelly Vương
Bội Huyền, các con Darlene Nguyễn Khoa Diệu Linh
2003 và Sophia Nguyễn Khoa Diệu Tâm 2004. KẾT
LUẬN Trong
thời gian gần đây, tác giả có thì giờ rãnh,
xem bộ phim “Quân sư Liên minh” nói về truyện
Tam Quốc Chí. Sau 60 năm xem lại mà vẫn còn say mê.
Trong lúc viết về chùa Già Lam, tác giả đọc
lại cuốn “Bên thắng cuộc” của nhà văn
Huy Đức. Bên thắng cuộc thì được xây
Lăng, Nghĩa trang Liệt sĩ. Bên thua cuộc thì nương
náu cảnh Chùa. Dù rằng trong hoàn cảnh khác nhau, tác
giả vẫn nhớ hoài 2 câu đối họa
của Ngô Thì Nhậm và Đặng
Trần Thường trong thời Tây Sơn - Nguyễn
Ánh: Thế
Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế,
thế thời phải thế Ai
công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ
biết ai Tướng Nam là một tướng
lãnh nhưng cũng là một Phật tử thuần hành.
Khi không còn giữ được thì Tướng
chết theo thành. Ông đã quyết định không
tiếp tục chiến đấu để tránh
sự chết chóc cho quân dân dưới quyền.
Tướng
Nam lể Phật tại Đồng Tâm - Bên phải là
Thượng tọa Thích Tâm Giác – Tuyên úy Phật giáo Sau
biến cố 30/4/75, rất nhiều gia đình
thuộc dòng họ Nguyễn Khoa đời 12, 13 đã
phải bỏ nước ra đi, lập nghiệp
phần lớn tại Hoa Kỳ cũng như các nước
khác trên thế giới. Sau hơn 44 năm, thế
hệ thứ nhất cũng đã trên ngưỡng
cửa 80, 70 và đang bước vào hoàng hôn của
cuộc đời. Đời thứ ba cũng xấp
sỉ tuổi 30 hay bắt đầu vào đại
học. Thế hệ này, cùng với thế hệ ngang
hàng trong nước sẽ xây dựng một nước
Việt Nam tươi đẹp trong tương lai. Dù
rằng nói tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng gì
đi nữa nhưng trong tim vẫn mang dòng máu Việt
Nam. Thế hệ mới sẽ nhìn cuộc chiến
Việt Nam một cách tích cực và công bằng hơn
với 2 miền Nam - Bắc. THAM
KHẢO 1.
Extrait du Bulletin des Amis du Vieux Hue - 2ème année,
No.3 (Juillet-Septembre 1915) - pp.287-304 « Une lignée de loyaux
sujets les Nguyen Khoa » par G. Rivière, professeur. 2.
Gia-phả tộc Nguyễn
Khoa - Ấn bản 1985 (Paris) ghi chép các Đời (thế
hệ) thứ 1 đến thứ 11
do hậu duệ của cụ Thảo am Nguyễn Khoa Vy (Paris) biên
soạn. 3.
Gia phả tộc Nguyễn Khoa - Tái-bản 2001 dày
217 trang ghi chép các Đời (thế
hệ) thứ 1 đến thứ 15
do ông Nguyễn
Khoa Phồn Anh (Texas)
biên soạn. 4.
Bài
viết “Viên giác Đại sư Nguyễn Khoa
Luận và chùa Ba La Mật” của ông Nguyễn Khoa Điềm. 5.
Cuốn
sách “Nguyễn Khoa Nam - Ấn bản 1 và 2” do người
cháu Nguyễn Mạnh Trí tổng hợp. 6.
Bài viết “Trực
hệ của Tướng Nguyễn Khoa Nam” do người
cháu Nguyễn Mạnh Trí viết ngày 24/1/2019. 7.
Bài viết “Những bến đò ngang trên sông Hương”
của tác giả Phan Thuận An ngày 4/8/2010. 8.
Bài viết “Chùa Trà Am – phường An Tây, thành
phố Huế” của tác giả Tùng Lâm ngày 2/7/2015. 9.
Bài viết “Cặp
rắn tu ở chùa Trà Am (Huế) submitted by anonymous on
7/20/2007. 10.
Bài viết “Ly
kỳ nhà báo Tây Đức phỏng vấn Tổng
thống Nguyễn Văn Thiệu” đăng trên đài
BBC ngày 29/4/2021. Nguyễn Mạnh Trí Tu chỉnh: 29/4/2021 E-Mail: prototri2012@yahoo.com |