|
Sơ
lược Lý thuyết Big Bang của Monseigneur Georges Lemaitre và Nhà Thiên Văn Edwin Hubble |
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Cách đây 13
tỷ 7 trăm ngàn năm (13.000.700.000 năm)
một trận Nổ Big Bang dữ dội, kèm
thêm vô số trận nổ phụ ...kéo dài.... dài
lắm không biết bao lâu, Vũ
Trụ Khai Thiên.
A
- Nhà vũ trụ học (cosmographer) sáng tác lý
thuyết Big Bang:
Monseigneur Georges Lemaitre người Bỉ. Monseigneur
- Pháp ngữ - Đức ông. (Trong Thiên Chúa Giáo,
chức hàm này cao hơn linh mục nhưng dưới
giám mục. Không nhất thiết phải đức
ông mới lên giám mục. Thực tế hơn 90% giám
mục được truyền chức từ linh
mục).
Một chút tiểu sử Đức ông Georges
Lemaitre:
Ông sinh năm 1894 tại Charleroi, Bỉ (Belgium)
Khi 20 tuổi ông đang đi tu Dòng Tên (Dòng Jesus),
xảy ra Đệ nhất Thế chiến (1914-1918).
Lemaitre bị động viên vào lớp sĩ quan
...tốt nghiệp ra trường chuẩn úy pháo binh
quân đội Bỉ. Sau chiến tranh ông trở
lại nhà dòng tiếp tục tu học và nghiên
cứu thiên văn. -
Năm 1923 thụ phong linh mục
- Năm 1925 ông trình luận án tiến
sĩ (Ph D) Vật lý tại MIT, Massachusetts USA. Sau đó
ông là giáo sư Đại học Công giáo Louvain
ở Bỉ
- Năm 1927 bằng toán học vật lý, ông Lemaitre
đưa ra lý thuyết và chứng minh Vũ
trụ Giản nở (The theory of the Expansion of the
Universe).
Ngày nay Lý thuyết Big Bang và Vũ trụ Giản
nở đã được các cộng đồng
khoa học thiên văn thế giới công nhận và
đang giảng dạy ở học đường
Georges
Lemaître - Wikipedia, the free encyclopedia
Biểu đồ trên mang
nhiều ý nghĩa: 1- Từ Điểm Độc
Nhất hoặc từ Thời Điểm Nhất
Định (Singularity) cũng là lúc Khởi Đầu Big
Bang gây nổ lớn. Sau đó Singularity Theory được
đưa vào hình học không gian 2 - Biểu đồ không
gian 3 chiều, chiều thứ 3 là chiều thời
gian (time) biểu thị của Big Bang và lý
thuyết Vũ trụ Giản nở theo thời gian 3 - Mời nhìn lại
biểu đồ trên. Bốn chùm sao tượng trưng
4 giải thiên hà (galaxy) ....Rồi thiên hà và vũ
trụ đồng giản nở. http://vi.wikipedia.org/wiki/Georges_Lema%C3%AEtre Georges
Lemaître – Wikipedia tiếng Việt Monseigneur Georges Henri Joseph Édouard Lemaître, (tiếng Pháp: [ʒɔʁʒə ləmɛtʁ] ( listen); 17 tháng 7, 1894 – 20 tháng 6, 1966) là một nhà thiên văn học, li...
Hình trên của NASA: Hubble
Space Telescope chụp hình vũ trụ năm 2009
(sau khi HST được sửa chữa). Trong số có
thiên hà (galaxy) già 13.2 tỷ tuổi như thiên hà
chúng ta. Riêng Trái đất (Earth) trẻ 4.5 tỷ tuổi. Mỗi ánh sáng (hình trên)
dù lớn hay quá nhỏ (vì xa) là 1 thiên hà. Mỗi
thiên hà có ít nhất 1 tỉ ngôi sao. Thiên hà chúng ta có tên:
Con Đường Sữa (Milky Way) hay tiếng Việt
là Dải Ngân Hà (Sông Ngân) có 300 tỉ ngôi sao. Vũ
trụ có 200 tỉ thiên hà (200.000.000.000) "đếm
được" , nhưng vẫn chưa thấy vùng
cuối vũ trụ. Nguồn
Georges Lemaitre, Father of the Big Bang : http://www.amnh.org/education/resources/rfl/web/essaybooks/cosmic/p_lemaitre.html Vụ
Nổ Lớn – Wikipedia tiếng Việt
Nhà vũ trụ học: Đức ông Georges
Lemaitre B - Người thứ hai: Nhà
thiên văn Edwin Hubble (1889-1953): Ông trình luận
án tiến sĩ (Ph D) ngành thiên văn tại
University of Chicago và làm giáo sư cũng tại UC.
Sau đó ông về Louisville, Kentucky nghiên cứu thiên
văn để tiện bề phụng dưỡng cha mẹ già. Mr. Hubble là nhà khoa học đầu
tiên và Hubble là người có "thẩm
quyền" nhất lúc ấy (tiền bán thế
kỷ 20) đã công nhận thuyết vũ trụ
được sinh ra từ vụ Nổ Big Bang của đức
ông Lemaitre
Edwin
Hubble - Wikipedia, the free encyclopedia
Hubble cũng công nhận lý
thuyết Vũ trụ Giản nở. Hai ông sống cùng
thời, nhưng kẻ trời Âu người đất
Mỹ. Dù Hubble lớn hơn đức ông Lemaitre 5
tuổi, Hubble vẫn xem đức ông Lemaitre
như là kẻ đi trước. Mr Hubble cho biết: Nhờ lý thuyết Vũ
trụ Giản nở của Lemaitre, Mr. Hubble đã
khám phá định luật Hằng số Hubble hay còn
gọi Hubble's Law Dưới đây Hubble'
Law. Đưa ra định luật các ngôi sao càng
xa trung tâm vũ trụ thì di chuyển ra xa với
tốc độ càng nhanh theo công thức:
v = H×d Trong đó: v là vận
tốc di chuyển của các ngôi sao (km/s) H là hằng số Hubble,
hiện nay người ta tính được H = 67,15 ±
1,2 km/s/parsec. Parsec là đơn vị tính
khoảng cách giữa các vì sao, 1 parsec = 3,08 x1013km. d: khoảng cách từ trung
tâm vũ trụ tới ngôi sao đó tính bằng
parsec.
Hubble's Law http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%8Bnh_lu%E1%BA%ADt_Hubble https://en.wikipedia.org/wiki/Hubble%27s_law
Năm 1919 Hubble mới 30 tuổi đã trở thành thiên
văn gia chuyên nghiệp. Cùng lúc chính phủ Hoa
kỳ vừa thiết lập xong Hooker Telescope
đường kính 2.5 m đặt tại Thiên Văn Đài Mount
Wilson Observatory(MWO) ở Los Angeles
Hình
Trên: Hooker Telescope tại Mount Wilson Observatory (MWO) Vùng
Los Angeles
Chính phủ bổ nhiệm Hubble quản lý nghiên
cứu Hooker Telescope. Đài thiên văn có 2 viễn
vọng kính toàn cảnh (panoramic telescope), đường
kính 1.5 m và 2.5m. Chúng lớn nhất thế
giới thời bấy giờ (1919)
Edwin Hubble trong nhiệm
sở tìm sao với Viễn Vọng Kính Hooker (2.5 m) Từ 2 viễn vọng kính
này ông khám phá nhiều sao mới, các thiên hà xa. Ông
biết thêm nhiều điều lý thú mà trước
đó các bậc tiền bối thiên văn hiểu
lầm về các chùm sao. Ông đã sửa chữa
rất nhiều dữ kiện quan trọng trong vũ
trụ. Dưới đây, xin đan cử vài
sửa chữa của ông về các chòm sao quen
thuộc với người Việt: 1
- Sao Bắc Cực (Polaris).
2 - Chòm Tiểu Hùng Tinh (Ursa Minor).
3 - Chòm Bắc Đẩu (Big Dipper)
4 - Chùm Đại Hùng Tinh (Ursa Major).
Trước khi tiếp tục tìm hiểu...các chòm sao
quen thuộc với người Việt. Xin phép bàn 2
chữ Chòm sao và Chùm sao :
Ngoài chữ Galaxi là Thiên hà có hằng tỷ sao,
tiếng Anh thường dùng chữ Constellation cho
chùm nhiều sao, hoặc multiple stars cho chòm vài sao như
chòm Polaris. Trong khi ta có nhiều chữ cùng nghĩa: chòm,
chùm, cụm, dảy, dải, giải...và ta cũng chưa
thống nhất dùng các chữ đó. Vậy trong bài
này để dể phân biệt, tôi xin tạm dùng 2
chữ Chòm, Chùm cho 2 trường hợp khác nhau
một chút
Chòm sao: Cho nhóm dưới 10 sao. Thí dụ: Chòm
Bắc Đẩu (Big Dipper) có 7 sao, Chòm Tiểu Hùng
(Ursa Minor) có 7 sao
Chùm sao: Cho nhóm có vài chục sao trở lên. Thí
dụ Chùm Đại Hùng (Ursa Major) có
khoảng 100 sao "có tên". "Có tên" : đã
được đặt tên từ thời Ai Cập
La Mã... theo thời gian lịch sử thiên văn
tiến bộ con người biết thêm vị trí và
đặt thêm tên các sao khác. Tất nhiên trong Chùm
Đại Hùng (Ursa Major) còn vô số sao không tên, con
người chưa biết hết. Nhất là trước
khi nhà thiên văn Hubble chưa sinh ra, chưa để
mắt vào viễn vọng kính tìm hiểu vũ
trụ. Xin
trở lại việc sửa chữa của Mr. Hubble
với các chòm sao quen thuộc 1 - Sao
Bắc cực (Polaris) nằm ngay trên bầu
trời Bắc cực.
Hằng chục thế kỷ qua các nhà hàng
hải lướt sóng viễn dương vùng Ôn
đới và Hàn đới ở bắc bán cầu
về đêm. Họ thường dùng Sao Bắc
Cực (Polaris, hình dưới) để vẽ hải
đạo cho tàu bè hải hành giữa biển khơi
trong đêm tối. Rồi cũng dùng hải đạo
đó làm đường đi cho ban ngày trời quang
mây đẹp hay lúc bão biển tối trời.
Đúng hơn dùng sao hay thiên thể, tinh cầu nào cũng
được, miễn là biết tên và vị trí sao
đó chính xác.
Vùng Ôn đới, Hàn đới thì dùng Sao Bắc
Cực sáng rỏ dể thấy nhất. Các tàu
thuyền rẽ sóng vùng Nhiệt đới (Tropical
zone), họ thường chọn các sao thuộc Chòm
Bắc Đẩu thuận tiện hơn.
Hình trên: Sao Bắc cực (Polaris) sáng nhất trong chòm
Tiểu Hùng Tinh (Ursa Minor) từ đó giới đi
biển dể đo tìm và nhận dạng các sao khác
của chòm Tiểu Hùng
Một đồ nghề quan trọng của giới
đi biển trước năm 2000: Kính lục phân
(sextant navigation) dùng đo độ góc các thiên
thể với chân trời để định
vị con tàu trên biển khơi mênh mông.
Kính lục phân (sextant) và cách đo để
lấy độ góc Từ khi có Viễn
Vọng Kính MWO (Mount Wilson Observatory) Edwin Hubble
biết: Polaris không phải chỉ có 1 sao, mà là 1 chòm
3 sao (multiple stars) ở gần nhau. Gồm ngôi sao chính
Polaris A là một lổ hổng kết tụ ánh sáng
(supergiant) gần trái đất nhất có ánh sáng
lớn nhất nên che mất hình ảnh 2 sao kia Polaris
Ab và Polaris B xa hơn 1 chút. Mời xem hình dưới:
Chòm sao Polaris được chụp lại từ
Hubble Space Telescope với sao Polaris A sáng rực, rõ ràng
hơn tấm hình Hubble chụp từ Viễn Vọng
Kính MWO.
Polaris
- Wikipedia, the free encyclopedia
2 - Chòm Tiểu Hùng
(Ursa Minor): Sao Bắc Cực (Polaris) được
xem ngôi sao đầu tiên trong Chòm Tiểu Hùng Tinh. Chòm
Tiểu Hùng có 7 sao với hình dạng giống Chòm
Bắc Đẩu (Big Dipper). Nên người Âu Mỹ
gọi Chòm Tiểu Hùng là Muỗn Nhỏ (Little Dipper,
hình thứ 3 bên trên ) phân biệt với Chòm Bắc
Đẩu là Muỗn lớn (Big Dipper hình dưới
)
Hình dưới:Từ sau nhà ở
Cali nhìn Chòm Bắc Đẩu rất rỏ. Kia kìa hình
dưới. Chàng ở hướng Bắc gồm 7 sao
có hình cái muổn (theo con mắt người Âu)
hoặc ghế đẩu (theo mắt VN).
Bây giờ thế kỷ 21, các
nhà đi biển không còn nhọc công tự vẽ
hải đồ như 10 năm về trước.
Họ cũng dùng GPS như chúng ta lái xe trên bộ. Trên
các chiến hạm lớn mới hạ thủy sau năm
2000 của Hải Quân Hoa Kỳ việc định
vị trí con tàu còn tối tân hơn. Hầu hết người
Việt đều quen biết ít nhiều về Sao
Bắc Đẩu và Chùm Đại Hùng Tinh (Ursa
Major). Tiếp tục mời xem... chúng ta cùng ôn
nhớ giải trí và sau đó theo dỏi quan điểm
của nhà thiên văn Hubble về các sao này 3 - Chòm
Bắc Đẩu (Big Dipper) Trong văn thơ và
tôn giáo VN thường đề cập: "Mẹ là
Sao Bắc sáng soi dẫn đường con đi ".
Sao Bắc..., chính là Sao Bắc Đẩu (Big Dipper) Sao Bắc Đẩu,
được tìm ra từ thế kỷ thứ 2
(AD) bởi nhà thiên văn toán học Claudius Ptolemy
người La Mã sống tại Alexandria, Ai Cập.
Ptolemy định vị Chòm Bắc Đẩu ở hướng
Bắc gồm 7 sao có hình cái muổn (theo con
mắt người Âu) hoặc ghế đẩu
(theo mắt VN). Chòm Bắc Đẩu (Big Dipper) nằm
trong Chùm Đại Hùng (Ursa Major). Ptolemy
- Wikipedia, the free encyclopedia
Hình dưới: Trên bản
đồ bầu trời đêm ở bắc bán
cầu, nhìn hướng Bắc, chúng ta thấy Chòm Bắc
Đẩu có 7 sao (màu green) nằm trong Chùm Đại
Hùng (giới hạn bên trong khung màu blue). Phía tây
bắc có 1 phần Chòm Tiểu Hùng (Ursa Minor màu green)
gần Bắc cực
Gần 20
thế kỷ qua, từ khi nhà thiên văn Claudius
Ptolemy khám phá Chòm Bắc Đẩu. Nhìn mắt thường,
các nhà chuyên môn thấy khoảng cách 7 sao của
chòm Bắc Đẩu ít thay đổi và ở
cùng hướng Bắc. Nên người ta nghĩ
chúng có khoảng cách không chênh lệch với trái
đất. Họ tạm xem chúng tương đối
nằm trên một mặt phẳng như Thái Dương
Hệ (Solar System) Mãi đến đầu
thế kỷ 20 nhờ viễn vọng kính
(MWO) Los Angeles và tính toán vật lý thiên văn, ông
Hubble biết rằng: 7 ngôi sao trong Chòm
Bắc Đẩu, sao gần nhất cách trái đất
58 quang niên, sao xa nhất cách trái đất 124 quang niên.
Như thế Chòm Bắc Đẩu chỉ có 7
sao, làm sao chấp nhận nằm trên mặt
phẳng dù tương đối. Quang
niên (năm ánh sáng, light year). Các nhà thiên văn đo
khoảng cách các vì sao trong vũ trụ bằng
vận tốc ánh sáng 300 ngàn km /1 giây.
Do đó: 1 Quang niên = 300.000 km X 3600 giây (1 giờ) X 24
giờ (1 ngày) X 365 ngày (1 năm) = 9.460.800.000.000 km
Vậy 1 quang niên = 9 ngàn 4 trăm 60 tỷ 8 trăm
triệu km / 1 năm ánh sáng ( chỉ khỏang
chừng , chưa kể năm nhuận)
Dưới đây tên 7 sao của Chòm
Bắc Đẩu và chi tiết: Tên
theo Hy lạp do ông Bayer đặt...- Sức lớn
của vì sao. Khoảng cách với trái đất tính
theo quang niên.
Bayer Designation: Đặt tên
theo người Hy lạp do nhà thiên văn Johann Bayer người
Đức sưu tầm lập danh sánh 1563 ngôi sao, con
người biết được vào năm 1603 http://en.wikipedia.org/wiki/Bayer_designation Bất cứ nơi nào ở
Bắc Bán Cầu, đêm trời không trăng
mời quý vị ra bên ngoài, bằng mắt thường
nhìn về hướng Bắc sẽ thấy Chòm
Bắc Đẩu và xa hơn là Sao Bắc Cực sáng
rỏ trên trời đen không khó khăn lắm.
Nhất là tiểu bang Alaska quanh năm về đêm
thấy rỏ Sao Polaris và Chòm Bắc Đẩu. Hình dưới: Cờ Tiểu
bang Alaska, bên trái có Chòm Bắc Đẩu và bên
phải có Sao Bắc cực
Điều này hầu như
ai ai cũng hiểu: Tiểu bang Alaska, quanh năm
về đêm dù mùa đông hay mùa hè giữa bầu
trời trong sáng, khi nào cũng thấy Sao Polaris và Chòm
Bắc Đẩu. 4 - Chùm Đại
Hùng (Ursa Major) có khoảng 100 sao có tên.
Ngày trước người ta ngỡ tất cả các
sao của Chùm Đại Hùng cùng ở trong thiên hà
Con Đường Sữa (Milky Way) với chúng ta. Nhờ
các viễn vọng kính tối tân vừa nêu và tính
toán, Edwin Hubble cho biết một số lớn các sao
ấy cách trái đất từ vài chục ngàn quang
niên đến hằng triệu quang niên. Do đó Chùm
Đại Hùng thuộc về thiên hà láng giềng
gần nhất là Andromeda. Thiên hà Andromeda cách Milky Way
2 triệu quang niên (light year)
Hình dưới: Andromeda là thiên hà lớn (Galaxi) ở
gần thiên hà chúng ta nhất. Tâm thiên hà Andromeda cách
Trái đất 2 triệu năm ánh sáng, trong khi toàn vũ
trụ có hơn 200 tỷ thiên hà, có sách nói 400
tỷ
Thiên hà Andromeda do người
Ba Tư Á rập (Persian) Abd al Rahman al Sufi đề
cập đầu tiên trong " Cuốn sách của Ngôi
Sao cố định" thế kỷ thứ 10. Andromeda
Galaxy - Wikipedia, the free encyclopedia
Chòm
Bắc Đẩu cùng chùm Đại Hùng chẳng ăn
nhậu gì nhau về hấp lực vũ trụ
hoặc lực hấp dẫn (gravity universe) lẫn di chuyển
trên quỹ đạo (orbit). Định luật thiên
văn đơn giản căn bản từ xa xưa:
Sao càng sáng là càng gần trái đất. Chính nhà Thiên Văn Edwin
Hubble đặt tên thiên hà chúng ta: Con Đường
Sữa (Milky Way) 5 - Vị trí Trái Đất
trong Thiên Hà Con Đường Sữa
Trái đất ở vị trí nào trong Milky Way Galaxy ?
Hình vẽ trên theo sự diễn tả và định
vị Thái Dương Hệ (Our Solar System) của nhà
thiên văn Hubble
Trái đất nhỏ quá không có tên, chỉ có cái
chấm nhỏ với hàng chữ Our Solar System. Từ
Thái Dương Hệ đến trung tâm Milky Way là
28.000 quang niên, nằm ở giữa từ trung tâm ra ngòai
bìa thiên hà. Đường kính Milky Way 80 ngàn quang
niên, chiều dày mặt phẳng 1 ngàn quang niên
Có khi nào bạn đứng trên 1 thuyền con tị
nạn giữa đại dương hay đứng trên
deck cao nhất của Cruise, bạn nhìn thấy chân
trời là một vòng tròn khép kín ? Con người
qúa nhỏ bé, lúc ấy chúng ta thán phục sự
bao la của đại dương. Nay nhìn Trái
Đất trong hình Milky Way này có 300 tỷ ngôi sao
(stars), sự bao la của đại dương không
nghĩa lý gì. Rồi Milky Way cũng quá bé nhỏ
với vũ trụ có 200 tỷ thiên hà.
Hầu hết các nhà thiên văn thế giới đều
đặt các câu hỏi:
Ai dựng nên vũ trụ ? Ai điều
khiển vũ trụ hơn 13 tỷ năm qua ? Các
tinh cầu cùng vũ trụ tự quay đồng di
chuyển trên nhiều trục và giản nở theo các
định luật đồng thuận không gây
trở ngại. Riêng
Trái Đất chứa 6 lục địa và 5 đại
dương " nặng nề " biết bao ! Trái
đất vẫn lơ lững giữa không gian và
quay xung quanh Mặt Trời 4 tỷ năm không
rơi vào đáy không gian vô tận Ai
điều khiển 200 tỷ thiên hà quay cuồng trong
vũ trụ. Hầu hết các nhà Khoa học Thiên Văn
đều tin chắc chắn phải có Đấng
Tối Cao, Thượng Đế ...
Hình vẽ biểu tượng: Đấng
Tối Cao dùng Compa sáng tạo nên Vũ trụ của một nhà khoa học ở
thế kỷ 13. C - Những năm
cuối đời của Nhà Thiên Văn Edwin Hubble
Những năm
cuối đời, Hubble thường viết sách thiên
văn. Ông giải thích
phân biệt sâu xa: Khối lượng lớn nhất
trong vũ trụ là thiên hà (galaxy) chứa đựng
nhiều tinh vân (nebulae) nhiều chùm sao (constellation) có
hằng tỷ ngôi sao. Ông phân loại rất nhiều
loại thiên hà, sao chổi (comet), thiên thạch, đá
trời, vẫn thạch (meteorite) lổ đen (black
hole). Hành tinh (planet) tiểu hành
tinh (little planet, asteroid). Hộ tinh, mặt trăng
(moon). Thời ông chưa có chữ Sao Lùn , Hành
Tinh Lùn (Dwarf Planet). Đây là 1 quyết
định rất quan trọng từ năm 1992
của Công Đoàn Thiên Văn Quốc Tế (
International Astronomical Union - IAU) ở Paris làm thay đổi
lớn về quan niệm Thái Dương Hệ
(sẽ bàn khi có dịp)
Năm 1948, Hubble rời MWO - Los Angeles về trông
coi Đài Thiên Văn Hale có viễn vọng kính
với đường kính khổng lồ 5 m đặt
trên núi Palomar, Phía Bắc San Diego County.
Năm năm sau (1953) đang nhiều công trình dang
dở, ông qua đời trong cơn bạo bệnh máu
đông trong não (cerebral thrombosis) thọ 64 tuổi http://en.wikipedia.org/wiki/Edwin_Hubble
Đài Thiên Văn Hale Palomar, San Diego County, Cali Công nghiệp
thiên văn vũ trụ của Mr Edwin Hubble rất
lớn. Ông sửa chữa nhiều hiểu lầm vũ
trụ từ các thiên văn gia tiền bối. Ông còn
khám phá lắm chuyện lạ không gian để các
nhà thiên văn trẻ làm nền tảng nhìn xuyên vũ
trụ. Khi Mr. Hubble còn sống, Giải Nobel Vật
Lý chưa được thế giới trao cho
những danh nhân thiên văn. Nhưng sau khi ông
qua đời, tổ chức Giải Nobel lấy
kinh nghiệm từ công nghiệp thiên văn của ông
mới chấp nhận các thiên văn gia tương
lai có công với nhân loại được nhận
Giải Nobel Vật lý.
Chính phủ Hoa Kỳ và người dân luôn
nhớ ơn :
Nhà Vũ Trụ Thiên Văn Edwin Hubble.
Hình trên: Con tem Nhà Thiên Văn Edwin Hubble với hậu
cảnh Thiên Văn Đài Hale Palomar, North San
Diego County; nhiệm sở cuối cùng của Hubble
Cơ quan Quản Trị Hàng Không và
Không Gian NASA đặt tên viễn vọng kính
độc lập đầu tiên cũng là viễn
vọng kính không gian tối tân đắt tiền
nhất thế giới vào thập niên 1990 đang bay
ngoài không gian hiện nay là: Hubble Space
Telescope (HST) được phóng lên từ năm
1990. Dĩ nhiên HST không phải là Space Scope đầu
tiên, vì tất cả các Vệ tinh Nhân tạo trước
đó đều ưu tiên chứa ít nhất 1 Space
Scope, nhưng chỉ xem vũ trụ giới
hạn về mọi mặt. Do đó Hubble
Space Telescope là Viễn Kính Không gian khổng lồ đầu
tiên là 1 Vệ tinh Nhân tạo hoạt động
độc lập. Tiếc sau khi phóng, Hubble Space
Telescope gởi về trái đất những hình
ảnh mờ nhạt, màu sai. Các nhà chuyên môn và
phi hành gia phải leo lên tận nơi, ở điểm
cách trái đất hơn 500 km sửa chữa và đóng
gói cẩn thận các bộ phận liên hệ đem
về địa cầu sửa chữa, sau nhiều năm
mới hoàn tất. Sau khi sữa chữa Hubble Space
Telescope đã gởi về Trái đất vô số hình
ảnh đẹp chính xác của vũ trụ và các
thiên hà xa xăm. Loạt hình của HST sau khi sửa
chữa xong được xem cuộc Cách Mạng Hình
Ảnh Thiên Văn và Thái Dương Hệ
Thí dụ hình dưới : HST chụp
hình Tinh Vân Con Cua (Crab Nebula )
Tinh vân Con Cua trong chùm sao Kim Ngưu cách trái đất 6500
năm ánh sáng. Năm 1054, các nhà thiên văn Trung hoa
Ả rập đã biết nó. Năm 1731 Nhà Thiên văn
John Bevis đã quan sát nó. Các hình trong bài này được
Hubble Space Telescope chụp là hình thứ 6th từ trên
xuống: một góc cạnh của Vũ Trụ có
hằng trăm thiên hà rất đẹp và hình Thiên
hà Andromeda (khoảng cuối bài) do Ba Tư Á rập khám
phá đầu tiên vào thế kỷ thứ 10. Muốn
nhìn thêm nhiều hình, mời gỏ vào Search Box . Tôi cũng tìm chùm sao
Song Ngư ( Pisces Constellation) qua loạt hình ảnh
của Telescope Hubble Space Telescope . Nhưng không
thấy chùm sao Song Ngư . Có nghĩa HST chưa
chụp hình Song Ngư nên chỉ tìm hiểu chút chút
. Trước đây
Telescope Hubble Space Telescope dự trù ( HST) sẽ
về hưu năm 2020. Nhưng hiện nay 2020 (HST)
vẫn thừa trữ lượng hoạt động
đến năm 2030. Hiện nay trong vũ trụ có
2 Space Telescopes đang hoạt động. Còn 1 cái
nữa, Spitzer Space Telescope phóng lên từ năm 2013 .
Và Viễn Vọng Kính Không Gian thế hệ
thứ 3 James Webb đang sẳn sàng chờ phóng,
dự trù sẽ phóng sau năm 2020. James Webb Space
Telecope. Tất nhiên James Webb Space Telescope càng
tân kỳ hơn với giá thành càng cao hơn
nhiều https://vi.wikipedia.org/wiki/Kính_viễn_vọng_không_gian_Hubble https://vi.wikipedia.org/wiki/Kính_viễn_vọng_Không_gian_Spitzer https://vi.wikipedia.org/wiki/Kính_thiên_văn_không_gian_James_Webb Chương
Sàigòn - 2016
Hết
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||