|
NGŨ HÀNH SƠN |
|||
|
„Hành Sơn đâu kém bồng lai
C̣n non nước đó,
mến hoài nước non Kỳ sơn bày sẵn năm ḥn Ngắm tranh thiên tạo ḷng c̣n say sưa“
Từ
chùa Tam Thai đi qua Động Thiên Phước Đại,
(trời thanh khiết và đất hạnh phúc) nơi
dừng chân các Vua Chúa đến thăm viếng. Tháp
Phổ Đồng có một ṿng tường bao quanh,
tất cả đền tháp xây bằng vật
liệu pha trộn đá cẩm thạch và gạch
xưa đẹp và rắn chắc. Chùa Từ Tâm mái
thấp thờ Điạ Tạng, có bàn thờ tưởng
nhớ các triều đại Đinh, Lư, Trần, Lê.
Có bàn thờ thêm cho các linh hồn lạc lơng là
nạn nhân của sóng biển, chiến tranh bị
người đời lăng quên Vọng Giang đài là cụm đá cao
mặt bằng nhỏ hẹp, đứng trên
Vọng Giang đài có thể nh́n bao quát sông Cẩm
Lệ lượn quanh cánh đồng lúa chín vàng, màu
xanh lá cây, làng mạc trù phú của quận Ḥa Vang.
Phiá bên trái chùa Tam Thai là động Huyền Không,
Linh Nhan (hang của đỉnh núi thần bí) và Tàng
Chơn (động của sự tĩnh tâm đích
thực). Phong cảnh chùa, hang động, yên b́nh lư
tưởng cho sự cầu kinh niệm Phật . Thời
gian vua Gia Long trị v́, người ngoại quốc
được phép viếng Ngũ Hành Sơn dễ
dàng, nhưng qua thời Minh Mạng, Thiệu Trị
và Tự Đức, việc viếng Ngũ Hành Sơn
rất khó khăn v́ chính sách bài Pháp. Qua thời Pháp
đổ quân lên cửa biển Đà Nẵng năm
1859, việc đi lại bị khó khăn hơn, nên
những người hành hương viếng
cảnh ngày một thưa dần, và Ngũ Hành Sơn
trở lại t́nh trạng điêu tàn đổ nát.
Hang động ở Ngũ Hành Sơn có cảnh
sắc thật kỳ lạ mỗi sáng, ánh nắng
mặt trời len lỏi qua các ngách đá tạo ra
vẻ lấp lánh trên thạch nhũ với vô
số h́nh hài khác nhau mà du khách có thể cảm
nhận theo trí tưởng tượng của ḿnh.
Ở động Quan Âm nhiều thạch nhũ
tạo ra những bức tượng nhà Phật
rất độc đáo, trong đó khối
thạch nhũ tạo thành
tượng Quán Thế Âm Bồ Tát rất hoàn
chỉnh, thanh tú. Một lớp da đá như
dải lụa kim tuyến phủ từ bờ vai
phải chạy đến hết thân tượng,
tay phải nâng b́nh nước cam lồ. Trong động
Quán Thế Âm c̣n có bộ tam khí nhà Phật gồm
chuông, trống, mơ bằng đá, đánh phát ra âm
thanh. Cuối động là hồ nước mát
lạnh, trong suốt quanh năm nên được
gọi là hồ nước Cam lồ. Nhiều ngôi
chùa khác trong quần thể Ngũ
Hành Sơn cũng lưu
giữ nhiều hiện vật và giá trị văn
hoá, tôn giáo, lịch sử quư giá. Ngoài ra, du khách
đến đây c̣n có thể thấy những bút
tích thơ ca thời Lê, Trần trên những bức
đá rêu phong. Chùa
Linh Ứng hướng ra biển, xây thời
vua Minh mạng 1825 gọi Ứng Chân Tự đến
đời vua Thành Thái 1891 đổi thành Linh
Ứng Tự, có tượng lớn Đức Quan
thế Âm bồ tát. Chùa Linh Ứng thờ Tam
Thế Phật, chính giữa Phật Thích Ca, bên
phải Di Lặc, bên trái Di Đà. Năm 1970 các Tăng
ni, Phật tử Quảng Nam-Đà Nẵng xây
lại chùa mới. Chùa
Linh Ứng thờ bài vị của trưởng
lăo Bửu Đài, Chùa nầy đă đào tạo
những danh sư (1) thế hệ gần nhất như
cố Hoà thượng Thích Trí Hữu. Ngài đă
từ nơi đây vào Sàigon hành đạo, xây
dựng nên ngôi chùa Linh Ứng Tự (1948) sau nầy
đổi thành Chùa Ấn Quang taị đường
Sư vạn Hạnh quận 10 Sài g̣n. Hoà thượng
Thích Bảo Lạc (là bào huynh Thượng tọa
Thích Như Điển người sáng lập chùa Viên
Giác Hannover, Đức) Ngài đă xuất gia tại
Ngũ Hành Sơn năm 1958 hiện trù tŕ chùa Pháp
Bảo Sydney Úc châu ).
Sau chùa Linh Ứng có động Tàng Chân, động
chính giống như thung lũng nhỏ chiều dài
10 m ngang 7 m thoáng mát, nhờ thông lên trời qua
cửa Thiên Long Cốc từ nơi đây đi
về phía tây có hai cửa hang gọi là: Vân
Nguyệt Cốc (hang của mây và trăng) động
Vân Thông (động thông với mây) hang Thiên Long
Cốc (hang của rồng và trời) có miếu
thờ Thái Thượng Lăo Quân, bên trái thờ Bát
Bộ Kim Cương, bên phải thờ thần Chiêm
Thành. Ngoài ra c̣n có 5 động nhỏ : Tam Thanh (Thanh
Thanh Tiên Động, động của ba người
bất tử Thượng Thanh, Thái Thanh, Ngọc
Thanh), hang Gió người ta c̣n gọi là Hang Thần
Thượng là hang của các Thần bề trên,
Đá nơi đây có màu xanh lá cây làm dễ
chịu và mát mẻ, động Chiêm Thành ( thờ
các vị thần Chiêm Thành thuộc về nước
Champa ngày xưa), động Bàn Cờ (tương
truyền là nơi các vị tiên hay xuống đánh
cờ ) hang Ráy.(nơi động
đá có màu ngũ sắc sáng lung linh) Âm Phủ huyệt nằm ở phía nam
Thủy sơn du khách vào thăm hang động
nầy thấy thiếu ánh sáng mặt trời. Càng
đi vào sâu càng tối tăm hơn, nên có tên là
Âm phủ có người nói rằng nếu đem
những trái bưởi có đánh dấu bỏ vào
đó mấy ngày sau sẽ thấy trôi ra biển có
thể động nầy ăn thông ra biển. Bên
phải chùa theo các phiến đá lót phụ bước
lên vọng Hải Đài nh́n cảnh quan từ trên
cao xuống băi cát vàng và biển khơi mênh mông, xa
thẳm, nh́n về hướng
đông nam là đảo Cù Lao Chàm, những đàn
hải yến bay lượn dưới bầu
trời trong xanh . Động
Huyền Không đi qua cổng ṿm có 3 chữ
Huyền Không Quan, cửa hơi hẹp động
tối, những bậc đi xuống sâu, giữ
cửa động có tượng h́nh ông Thiện và
ông Ác, như nhắc nhở con người phải
thánh thiện, từ bi khi đến cơi sắc không
của Phật . Vào trong hang
có ánh sáng từ trên cao chiếu qua lỗ trống
trên động, càng làm vẻ đẹp lung linh
huyền bí, ṿm Động cao nhủ thạch bám vào
vách tạo nhiều nét đẹp thiên nhiên, và bàn
tay con người tạo thêm nhiều h́nh đẹp
như tượng Phật Quan Âm, được
điêu khắc công phu trên bệ thờ, phiá bên
phải là ngôi chùa nhỏ Trang Nghiêm Tự, bên
cạnh có thạch nhũ nhỏ nước tí tách,
dưới nền có khối đá điêu khắc
tượng của người Chàm, khung cảnh hư
ảo trong hang động tạo cho du khách như
sống với thế giới vưà hư vừa
thật, lấy tay vỗ lên trên đá nghe như
tiếng trống b́nh bịch. Động Huyền Không trên bàn thờ có tượng Thiên-Y-A-na- Chúa Ngọc, ngày xưa người ta có tục lệ làm hai lễ đặc biệt được cử hành bằng đức tin là “cắt huyết gà để thề” những việc tranh căi thề thốt không nói dối, trước những đấng siêu h́nh chứng giám xác quyết lời thề sự thật tuyệt đối, vĩnh viễn không nuốt lời thề, người ta lấy dao cắt cổ con gà trống cổ nhổ sạch lông và cái bát đựng huyết gà để thề, nếu ai nói sai sẽ chết như con gà. Nhiều người đến chùa cầu xin Thiên ân “cầu tự” cho những đàn bà chưa có con. Sau đó họ vào động Huyền Không uống nước từ thạch nhũ, các tục lệ trên ngày nay không c̣n như xưa nữa
Động
Huyền Vi nằm sau lưng chuà Linh Sơn thuộc
Hỏa sơn. Hội Phật giáo xă Hoà Hải t́m
thấy năm 1953. Động Huyền Vi là một
trong những hang động đẹp của Ngũ Hành
Sơn, cửa hang dày 3m, động dài 10m ngang 2m có
nhiều ngách nhỏ, trên vách hang có nhiều h́nh
ảnh cây cỏ. Một góc khác có hồ nước
trong xanh có tạc tượng ông Lữ đi câu.. có
giếng nước sâu, đến gần miệng
nghe những âm thanh trầm bổng tựa tiếng
đàn, gọi là giếng tuyền cầm Trong
luận ngữ (Nhân giả nhạo sơn, trí giả
nhạo thủy nghiă là: Người Nhân yêu núi, người
Trí th́ ưa nước.) Non nước hữu t́nh,
Huỳnh Thúc Kháng
dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Thượng
Hiền : Hai
mươi năm lẻ xuống trần gian Ngoảnh
lại bồng lai gấm dở dang Ḱa
động Tàng Chân nay được đến Dâng
hoa quét lá lễ tiên ban Linh
Ứng đền xây giữa núi sâu Tàng
Chân động cổ đá thưa rêu Gío
thu tựa cửa tùng quang ngắm Hạc
biển bay mà chả thấy đâu Non
cao mấy chén rượu tùng say Xa
tục tiên ông ở chốn nầy Tung
tích người xưa ôi chớ hỏi Cḥm
mây muôn dặm tự do bay Từ
Ngũ Hành Sơn nh́n ra biển một màu xanh xanh,
phong cảnh đẹp với mây bay gió thoảng,
những làn sóng nhẹ tung tăng chạy vào bờ cát
trắng. Ngũ Hành Sơn
đă cho mặc khách, tao nhân các nguồn mỹ
cảm với
cảnh non xanh nước biếc. Ngũ Hành Sơn làm
cho du khách như rũ sạch bụi trần, thoát ṿng
tục lụy đi vào chốn bồng lai
tiên cảnh Cơi
trần dạo bước thử xem chơi Năm
ḥn chót vót cây chen đá Bốn
mặt mông mênh nước lộn trời Băi
cát trắng phau cơn gió bụi Cḥm
rêu xanh ngắt bóng trăng khơi Ngự
thi nét bút c̣n như vẽ Dâu
bể bao phen đă đổi đời
Nữ
sĩ Ngọc Anh Từ thời ấu thơ cho đến tuổi trưởng thành, tôi đă nhiều lần đến thăm Ngũ Hành Sơn, và cảm hứng sưu tầm viết lại bài nầy trong khả năng hạn hẹp. Mong độc giả đóng góp thêm, để chúng ta có cái nh́n toàn diện về vẻ đẹp của quê hương muôn thuở …
Ba
chữ Đại Tự nầy là nơi công Chúa
Ngọc Lan ẩn tu
Nguyễn Quư Đại Munich
muà hè năm 2005 1
/ Những vị Đại sư đă tu ở Ngũ
Hành Sơn từ triều Nguyễn: Sư
Bửu Đài Viên-Trừng
đại sư Chơn-Như
đại sư Hoàng-Ân
đại sư Phước-Nghi
đại sư Tuệ-Quang
đại sư Mật-Hành
đại sư Chí-Thành
đại sư Từ-Trí
đại sư…. Sau
nầy th́ tăng sĩ có các thứ bậc : Đại
Đức, Thượng Toạ, Hoà Thượng,
Đại Lăo Ḥa Thượng,….. Tài
liệu tham khảo Việt
sử Đại Cương Tác giả Trần Gia
Phụng NXB Non nước Toronto 2003 Quảng
Nam trong lịch Sử Tác
giả Trần Gia Phụng Nxb Non Nươc Toronto
2000 Ngũ
Hành Sơn tác giả Albert Sallet NXb Đà Nẵng 1996 Non
Nước Việt Nam NXB Hà Nội 2003
|
|||